Trang chính » Giới thiệu tác giả In bài này Email bài này

Hoàng Xuân Sơn và nỗi thơ đồng cảm

Nguyễn Vy Khanh | 1.12.2008 0 bình luận |

Hoàng Xuân Sơn tác-giả các tập thơ Viễn Phố (Việt Chiến, 1989), Huế Buồn Chi (Tác giả xb, 1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (Thư ấn quán, 2004), từng và hiện thường xuyên có mặt trên nhiều tạp-chí ở hải-ngoại dưới tên thật hoặc các bút hiệu Sử Mặc, Hoàng Hà Tĩnh, Vô Định, … Qua ngôn-ngữ thơ, Hoàng Xuân Sơn một mực nòi tình và rất Huế. Cuộc tìm giao cảm bắt đầu với con chữ và liên tục, thiết tha.

Giao cảm với đời, với người

Người Việt là dân-tộc sính thơ nhất thiên hạ, xa xưa thì cổ thi, cổ phong, phong dao, ca dao, rồi truyện thơ, trường ca, hành, … và thời bây giờ thì mỗi năm hàng trăm tập thơ và ‘thơ’ được in ra hoặc tung ra trên Internet (hiện-tượng đưa cái Tôi lên qua các Blog) trong đó đa số không ai biết đến hoặc tự biến mất. Ru con, chèo thuyền, thi đua công tác, làm việc đồng áng, cưa gỗ, mà cả việc giáo huấn, làm chính trị, v.v. cũng thơ, cũng vè, học sinh sính thơ mà chủ tịch cũng … thơ. Bên cạnh là những người yêu chuộng nghệ thuật thi-ca, có người một đời chuyên trị thơ, có người làm thơ cho mình, tự kỷ, có người cho rằng thơ mình là hay nhất, và có những người làm thơ để giao cảm với người, là mở lòng ra với đời, có khi kèm sứ điệp, có khi không. Hoàng Xuân Sơn là một trong số đó, với những đặc thù, đặc sản ‘Hoàng Xuân Sơn’!

Giao cảm với người, với đời, ông làm thơ tặng bạn văn thơ, bạn đời, bạn từng gặp, v.v. do đồng cảnh đồng tình, đồng thuyền đồng hội. Giao cảm qua kỷ niệm một thời, thời trẻ tập tễnh thơ văn (Chuyện tầm thường ở một góc độ, HBC) hoặc cảm nhận mỗi khi được đọc văn thơ bạn hữu, v.v. Nhà thơ còn mở lòng ra với cả thiên hạ, không biết trao ai như nhà thơ cho biết trong bài Sẽ tặng … ai ? gần đây:

"da mầu tôi / ăn nắng em

một hôm đất sậm . buồn

thèm mưa xanh

nằm mơ / hạt bụi xuyên thành

mặt trăng xin kể chuyện đành lòng / xa

tôi đi / níu kéo giang hà

mà đêm phụ rẫy / tình qua bãi bờ

ở sơn tuyền . nhớ câu thơ

trăm năm phố thị

một giờ mất nhau … " (7-7-06, trích từ mạng Da Màu damau.org)

- Giao cảm từ cái Tôi:

Hoàng Xuân Sơn đến với người thưởng ngoạn thơ qua những cái riêng và chung của Huế, buồn, và qua thơ. Thật vậy, phương tiện chỉ còn là những vần thơ, nhất là ở những lúc buồn và vô vọng:

"Đêm nằm gối lên sách / Mơ chữ nghĩa hiện về

Câu thơ nào bế tắc / Nét mực nào di thê ?

Ôi như linh hồn cũ / Có xót xa cũng đành

Sao niềm vui mới nhú / Đã giục đời quay nhanh

Chí tình không thay đổi / Cả tim óc lẫn mình

Gửi về đâu nguồn cội / Sách vở buồn lênh đênh!" (Vô Thư, VP tr 35).

Buồn rõ nét hơn chăng với thời gian, vì nhiều năm trước đó từ Huế vào Nam và trước khi rời đất nước đã buồn nhớ rồi :

"… Rồi sẽ đi xa dăm người bạn / Chào đêm Sàigòn ngây ngất say

(…) Sẽ đến nơi nào trên mặt đất ? / Theo chân mùa cũ hẹn nhau về

Nối những đêm xanh đầy tiếng hát / Vẫn có Sàigòn trong dáng xưa"

(Sàigòn những đêm còn lại, VP tr. 38-39).

Sài-Gòn đó nay cũng đã thành cố quận, nơi một thời có "Anh chàng người Huế đi phiêu bạt / vô tuốt Sài Gòn ở gác thuê / chiều chiều ngó xuống đường xe cộ / buồn ! nhớ ! chi mô, lạ rứa tề !"

Cái Buồn như một nỗi ám ảnh, như tâm cảnh:

‘Chiều ba mươi Tết lạnh, về không / Nắng ở trên mây rụng cuối lòng

Nhà ai tiếng pháo mơ hồ vẳng / Em từ âm vọng buổi tàn đông ?

… Bóng lạ gương soi buồn lặng thấm / Sầu che tóc rũ mắt không hồn

Nắng biệt bên trời mây chợt trắng / Lòng đêm cao tới mộng vô thường …’

(Quỳnh Hương một đóa vùi lau lách, VP tr. 36-37).

"Bao nhiêu năm vẫn chưa hề ngó lại / những chốn qua là mỗi mỗi tình cờ

cơn nắng hạ giữa một ngày đông chí / cũng mơ hồ như lối cũ đường xưa

… Bờ mới đến chỉ là bờ tâm huyễn / vui gì đâu tiếng nói lạ tai người

từng cảnh trí từng huy hoàng bóng, sắc / từng băn khoăn ngột ngạt giữa đất trời …"

(Nhìn Lại, 1984; Thơ Quỳnh, chưa xuất-bản)

Riêng cái buồn Lô Dung như cô đọng với vẻ cổ kính năm chữ:

"Gối đầu lên mùa lũ / buồn Lô Dung đổ dài

vạt chiều quai nắng thắt / ngoi ngóp dặm triều phai …"( Buồn Lô Dung, HBC tr. 35)

- Giao cảm từ cái Buồn và nỗi niềm xa xứ, với tâm thức lưỡng đầu xứ người-quê nhà, bên ni nhớ bên tê: Tập Viễn Phố xuất bản năm 1989 gồm một số bài sáng-tác trong nước sau biến cố tháng Tư 1975 và những sáng tác những năm đầu sống lưu lạc ở Montréal, Washington D.C.; phần lớn đã đăng trên các tạp-chí Việt Chiến, Nhân Chứng, Văn Học, Làng Văn, Nhân Văn, Tân Văn (Hà Thúc Sinh), vv. Tập Viễn Phố mang 4 phần đánh dấu cuộc hành trình định mệnh rời bỏ quê hương và sống đời lưu xứ, tâm thức thường trực ‘hướng về‘ trong tưởng vọng: Quê Nhà Như Một Vết Thương, Ở Một Nơi Đến, Hoài Niệm, Dù Đường Thiên Lý. Phải sống cái không khí hải-ngoại những năm 1980-1990 mới hiểu được nội dung lưu đày và giá trị văn-chương của những tạp-chí văn-học đấu tranh như Nhân Văn, Nhân Chứng, Việt Chiến, v.v.

Tâm thức lưu vong hơn một lần được nhà thơ biểu tỏ, tâm trạng như bao gồm những vết thương nhức nhối ở quê nhà, nỗi xót xa ở đất khách và những hoài bão cưu mang cho một ngày hy-vọng hồi sinh. Đất người là nơi mà

"Đời sống tôi không hằng ước mơ

kéo dài như nỗi xót đau / nơi đây

sự lạnh lùng biểu trưng ngày tháng

dưới dạng mùa đông nguyên thủy loài người

những tâm hồn băng giá mọc chùm cô đơn … " (Bất Hạnh, VP tr 52).

‘Nơi đây’ con người vương mắc cái buồn lữ thứ, dần trở nên tâm thức thường trực. Nhất là khi ngụ cư ở miền đất lạnh phương Bắc của Canada, nơi mùa lạnh kéo dài đến nửa năm, nơi sinh vật như phải chết, như phải ngưng lại, như để chuẩn bị cho một cuộc hồi sinh. "Khi lá rừng phong dần đỏ thắm" nơi xứ người, nhớ về những con đường phố học của Thu Vàng Phố Cũ (HBC tr 53).

"Nằm đây / xứ lạ quê người

Nhìn ra một thuở / đất trời chửa quen!

Mùa chi sáu tháng lạnh tràn

Thân chìm dưới áo tuyết dàn trắng mây

buồn trơ trụi mấy hàng cây

về đâu chiếc lá của ngày thu xưa? … "(Quê người, VP tr. 84)

Ở ‘nơi đây’ mà hoài nhớ Huế xưa:

"… Mùa đông xứ Huế chao ơi nhớ

Những đứa con đau thắt nỗi nhà

Hỡi ơi cố lý là quê cũ

Áo trắng qua cầu em có qua? "(Huế, từ phong vũ, VP tr. 78)

- Cái Buồn vĩnh cửu của con người Huế nhạy cảm :

Buồn như tứ thơ tha thiết, day dứt, khôn nguôi, gần như bẩm sinh, như những cơn mưa dai dẳng buồn thiu. Buồn trống trơn như không có gì, không cả lý do nội tại cũng như ngoại lai :

‘Không có gì đâu em / Chiều nay như mọi bữa

Đêm, cái chết êm đềm / Vẫn nuôi ngày sống, thở

… Trúc xanh biệt mai vàng / Xui chi mùa gió chướng

Đau xót một cành lan / Hôn nỗi buồn cúc trắng …’ (Thoảng tan, VP tr. 22)

Cái buồn nhẹ thênh mà thường trực và dài hơi :

‘… Buồn lắm mênh mông triều sóng bạc

như người cất rớ đứng cô đơn

bèo trôi ra biển rồi mất biệt

còn chút rêu rong bỏ lại nguồn …’ (Mưa mùa nước lớn, HBC tr. 28)

‘Thuyền, cầm / ngọn nước thờ ơ

để cho rong tảo lên bờ ngủ hoang

buồn đi quải gió theo đàn

trường thiên thu thủy hồn tan nguyệt biều

như tình còn chút lửa thiêu

nghe mùa cổ điển dậy triều sóng đưa’ (Thuyền, HBC tr. 94)

Chữ dùng bất ngờ nhưng xứng hợp địa-dư, nhắc người thưởng thức khung trời xứ Huế (tuyền, ngọn nước thờ ơ, nguyệt biều…).

- Cái Buồn rất Huế:

Huế với sông Hương, núi Ngự Bình, hoàng thành của một thời đế vương lừng lẫy, với thành Nội, những lầu những cửa Thượng Tứ, Ngọ Môn, những bến Thừa Phủ, Nam Phổ, Kim Luông, Vỹ Dạ, cửa Thuận An, v.v. Nơi có lần nhà thơ tự hỏi: "… sinh ra làm gì ở Huế / những cơn mưa cuồng thâm nặng lòng đất" (HBC tr. 92). Huế là một chốn xứ sở "bỏ thì thương, vương thì tội" mà những ‘đứa con hoang đàng’ phải bỏ Huế mà đi thì cũng có lúc trở về, nếu không thì cũng quay quắt thương nhớ về. Một chốn đầy vết tích phế hưng lịch-sử, đầy thăng trầm con người, một thiên nhiên trầm lắng, khép kín. Con người ở đó dễ mơ tưởng, trầm mặc, dễ lắng nghe tiếng nói của con tim, của nội tâm. Sông Hương lặng lờ, không sóng lớn, nhưng ai biết con người nơi đó sóng lòng ra sao, da diết thế nào. Những con thuyền lặng lờ, biết về đâu. Những giọng hò mái đẩy làm nao lòng người. Mưa Huế dai dẳng, … tác-giả kể trong Chuyện Tích những ngày Huế cũ nhưng hãy còn sống động trong tâm tưởng.

- Buồn qua thổ âm, ngôn-ngữ Huế : tiếng Huế là ngôn ngữ réo rắt của tâm tưởng, của thời-gian một thuở, của những Nam Ai, Nam thương, Nam bình, …; ngữ-khí rất riêng:

"Lâu lắm không hề nghe thổ âm

Răng, rứa, chừ, mô cũng lạ dần

giọng treo trên núi hồn xiêu lạc

giọng bỏ về nơi chốn tị trần" (Thổ âm, HBC tr. 10)

"Huế buồn chi Huế không vui

Huế o ở lại Huế tui đoạn đành

o đau sương khói một mình

tui đi ray rứt Nội thành tái tê

Huế buồn chi, tội rứa thê

tình xưa nghĩa cũ ngó về tựa nương

Huế ơi mộng tới đường trường

Kim Luông Vỹ Dạ dòng Hương có còn

trèo tình lên núi mà thương

cỏ cây chất ngất phố phường ở mô

Huế chừ cách mấy triệu o

mưa qua cửa Thượng chiều co bến Thừa" (Huế buồn chi, HBC tr. 15)

Huế mà một khi xa rời sẽ nhớ:

‘Trách cá nục chừ ai khen

trái ớt chia vôi chừ ai hít hà

nứt làm hai con cá bống thệ

cha mạ nứt hai cha mất đi rồi nhà tróc nóc

bếp lửa chiều lạnh tanh củi nỏ …" (Chừ mạ gánh, HBC tr. 80)

Khi xa dễ tưởng rằng "sông Hương chừ trắng nợ rồi / phủi tay còn chút buồn rơi cuối dòng" (‘Phủi tay rồi nợ sông Hương’, HBC tr. 83), mà nào phải vậy!

Một thứ buồn đầy nhạc tính:

"Đàn nghe vẳng tiếng ru hời

Chạnh lòng sông xưa ca nữ

Quạ kêu sương cũng chin chiều

Lạc loài mấy cung lưu thủy

… đa mang chi tài tử

cầm so dây rồi / khúc tư lự

nam bình gọi nam ai

giọng sầu chừ trách sông dài

trách non hờ hững mòn vai đợi chờ"(Nam Ai, HBC tr. 19-20)

- Tâm-sự Sử Mặc : Ở Hoàng Xuân Sơn có phần tâm-sự tạm đặt tên là Sử Mặc, vì ở ông có tâm-sự của một kẻ bất bình, bất phùng thời và ‘hoang đàng chi địa’:

"Quý thân ta / ruồng thân mình

ôi thân lá mục / trường thành mang mang

vì đâu thiên địa hoang đàng

cái nhỡ tay / rót mộng tràn

tâm si / mộng mơ mơ mộng rù rì

lãng đãng bước phơ phất

ghi / dạng hình

cái bóng : góc chờ ? hiển linh

cái thây cúi nhặt / lung linh ảo hồn

đường mù thai / trụy / hoàng hôn

buổi người khép . rịn

lao tồn nhục vinh" (Hoang đàng chi địa, 5-2005).

Những bài thơ ký Sử Mặc có dáng thơ riêng. Về bút hiệu Sử Mặc, Hoàng Xuân Sơn đã có lần cho biết ông "tự thấy thơ Sử Mặc có ý bỡn cợt và trào phúng như một chỗ xả hơi khác trong sáng tác" (Phỏng vấn của Tường Vi, Văn Nghệ Ngàn Phương, bộ 3, số 108, 1-7-2001). Tập ‘Thơ Phiêu Sử Mặc’ được hứa hẹn từ lâu nhưng vẫn chưa xuất-bản; tuy vậy nhiều bài đã xuất hiện trên một số tạp-chí giấy và Internet và người đọc thơ đã có thể cảm nghiệm được cái "phiêu bồng, phiêu hốt, hay phiêu diêu trên cõi đời thường" như tác-giả cắt nghĩa với chúng tôi gần đây. Thơ ở đây chạm đến hiện thực và vấn đề hôm nay, tức nghệ thuật vị nhân sinh hơn:

"Lây bây ra cả đấy / trây trét chẳng nên hình thù

mới tính chuyện phúc hồng vực dậy

phúc bảy mươi đời nhà nông bần cố

chữ cắn đôi nát bấy tay cầy

khom lưng chẻ dọc đường sống

bao lâu rồi qụy gối dâng

tội nghiệp đất thà như đất

thó im ỉm / thóc giống chẳng còn ra

thà như đất / nằm / im."(8.02).

Ngôn từ hiện thực để nói cái tâm linh, phẩn nộ :

"rút đi / xương, tuỷ . nhục này

rút đêm mê sang / rút ngày mượn hơi

rút đi / hồn ngụ trên trời

thân cư dưới đất / nghìn khơi bão bùng

rút đi / cái thắt thẻo

cùng / ba hồi chớp nháng

cái chung đụng . buồn

rút này / rút cả tư phương

xác ve mình hạc / lên đường / kéo quân" (Đôi co cùng bệnh, 09/06)

Giao cảm với thể cách sáng tạo: phá thể cái truyền thống

Để đạt mục-đích giao cảm với tha nhân, tác-giả vừa là Ta, một cái Ta hừng hực không ai khác, một cái Ta lừng lẫy một quá khứ của riêng Ta! Một cái Ta có khi ẩn khuất, mờ ảo. Ở Hoàng Xuân Sơn không có cuộc chiến của những cái Tôi, mà tất cả những cái Tôi, cái Ta như cùng hổ trợ cho một Hoàng Xuân Sơn! Hoàng Xuân Sơn sáng tác nhiều thể-loại thơ năm chữ, bảy chữ, lục-bát, tự do đến cả Tân hình-thức, nhưng ở lại với người thưởng thức thơ nhiều hơn với những bài lục-bát và có thể nói ông thành công với những bài lục-bát dù biến thể.

"Một ngày / bút tự rong chơi

ngâm câu tự bạch / bỏ / đời thi thư

thành ai / vây khổn sương mù

buồn lên một ngọn trăng lu / võ vàng

cây đau cổ / xuống vai / quàng

rưng rưng chiếc lá / mầu khang lệ / còn

trường tình / mới buổi nào / son

đã nên oán khúc / đẽo mòn / xuân thơ

ai đem giọt nước ơ hờ

cũng xin thấm muộn / đôi tờ thư xưa

một ngày / bút tự xanh mưa

ngâm câu tự bạch / xin / vừa dấu yêu" (Tự bạch, 2001)

"Lên đèo heo. mất hút. tăm

em tan cánh gió bay / trần trụi. tôi

quađời quađời quađời

dễ chừng hơ hỏng vốn lời ngất ngây …"(Tăm đèo, LB tr. 103)

Chúng tôi đã có lần nói đến những cách tân của thơ lục-bát, rằng thể thơ gia tài riêng của thi ca Việt, đã được cộng hòa văn-chương miền Nam tự do tiếp tục làm mới từ khi ra đến hải-ngoại : cái Ta được biến thể và cập nhật, chưa nhập vào lòng văn-học hội nhập thì ít ra tự ứng phó với thời mới, đất mới. Ngoài Du Tử Lê còn có Hoàng Xuân Sơn theo con đường biến thể lục bát – cùng với sử dụng dấu chấm câu hoặc không viết hoa – trở thành thông thường vào cuối thế kỷ XX : "Em qua / em qua / em qua / đò giang trắc trở / em qua được rồi / em qua tới bợt em ngồi / tới bờ em đứng khóc / mùi mẫn / em" (Đầu lệ, HBC tr. 51) – hình-thức thơ tự do có thể được ngâm như được diễn tả trong thực tế là bốn câu lục-bát !

Thật vậy, thơ lục-bát bị xâu xé giữa truyền thống và mỹ học hôm nay. Lục bát cách tân dưới nhiều hình thức, biến thể tự do về chấm câu và xuống hàng trong cái khuôn tiên-thiên hay hiểu ngầm 6-8. Nhịp điệu đa dạng ra. Âm điệu vẫn giữ hoặc không giữ, lục bát ba câu, chấm dứt ở câu sáu, v.v. Hình thức có đem lại cái mới cho con mắt, cách đọc đa dạng. Lục-bát biến thể, đa dạng đã được dùng trong mọi tình huống, mục-đích, từ cụ thể vật chất đến tư tưởng, tâm linh. Vì cũng như tiếng Việt, câu lục bát Việt không phải là cái bất biến; một sự đổi mới về tu từ, về cấu trúc câu, khiến câu thơ Việt cập nhật thêm tính cách nghệ thuật mới mẻ.

Hoàng Xuân Sơn là một nhà thơ sáng tạo ra một cấu trúc thơ riêng của mình. Việc tạo ra những câu thơ con chữ Huế gây lạ, bất ngờ, và bằng cách xáo trộn cấu trúc câu, … là có chủ đích cả. Thi ca có nóng mới sáng lên, có sáng đã thì ấm nồng mới đến, do nguồn khí con tim tìm giao cảm đi khắp da thịt, máu và lý trí. Thơ lục-bát biến thể của Hoàng Xuân Sơn ngắt nhịp bất ngờ, đa dạng, theo cảm xúc, khiến giàu nhạc tính và dễ đi sâu vào lòng người thưởng ngoạn thơ. Lục-bát của ông có thể là lời tỏ tình với người yêu, với bạn, với mẹ cha, anh em, cũng có thể là lời ru, câu hát (ảnh hưởng nhạc Trịnh hay chính Hoàng Xuân Sơn cũng là người mê nhạc, ca hát, một phong cách bộc lộ căn nguyên bản chất).

Mặt khác, sử-dụng thể lục-bát của dân-tộc, thể-loại từng sống lâu và có thể bất tử, nhà thơ vận dụng để nói chuyện tâm thức hay thực tại, như muốn thơ mình ở lại trong khung bất tử. Hoàng Xuân Sơn với nội-dung bản ngã và những riêng tư quê quán, thổ âm, với kỹ thuật vừa nói, đã thiết lập ý nghĩa cho một lục-bát biến thể riêng của ông. Giai điệu lục-bát vẫn thường trực ở đó như một bảo đảm nhịp, vần:

‘Rượu đằng chấp chới tình cô

gió khuya hứng lạnh một tờ rẩy run

uống bao nhiêu lụy chưa chùn

bước trong thiên hạ bước cùn mằn tâm

ngọa lời cay đắng trăm năm

ẵm ngửa bồng ngửa chút cầm cố theo

chí cương, mà thạnh rất nghèo

mạt vận không nắm được . vèo . cơ ngơi

hốt dăm ba chữ . đuối lời

con tàu lân mẫn nằm chơi ụ buồn

giờ thì kẻ lạ người dưng

xác xao suốt một giải trường sơn kia

ngờ xem thiên cổ ai về

chút hồn sử lụi đêm khuya . chiến bào

đâu còn mã lộng đồi cao

mà chân ngựa trắng tây tào tuyết in

bắc phương bắc phương kìn kìn

rượu đằng sóng nổi thu chìm túy thi

(…) uống đi . trăng đã xa bầy

rừng trốc . suối kiệt . non đầy đọa căn

ừ sông ra biển một lần

mà dây thủy táng chuộc phần dương sinh

nơi đâu mồ qủy phúc trình

oan hồn vạn kiếp còn linh hiển nào

rượu đằng xấp xiển mùa ngâu

có hưng phấn được mối sầu hoa nan ?

chờ nhau . rồi chờ nhau . ngang

người đi lớp lớp tan hàng cuộc vui’ (Đằng khúc, tửu, 2003; trích ‘Thù Tạc’, chưa xuất-bản).

Tác-giả cắt câu, xuống hàng, một bài dài như Trân thực ra bao gồm trong bốn câu lục-bát:

"Nắng lên / đầy ảo / mắt nàng

gió sao còn chạy xiên quàng giữa mưa

màu trời / ai bảo đem chia

cho người khốn khổ / đầm / đìa / giọt trân". (Trân, HBC tr. 31).

Cùng trường hợp với các bài Biết Gì, Gọi Đàn, Liễu Y, Đầu Lệ, … trong tập Huế Buồn Chi. Và toàn bộ tập Lục-Bát là những bài lục-bát biến thể dù chủ đề là tình, là cảnh, là những cảm xúc khi đọc sách, ngâm thơ, nghe nhạc hay chỉ là những thoáng sát-na trong cuộc nhân sinh.

"Trời thu sao tịnh cuối hồn

Nghe luồn rét ngọt bồn chồn chân đi

đầy âm. đêm. cõi nặng chì

bước giang hồ vặt kéo, trì những đâu ?

nhớ đời tươi tắn xưa. Lâu

nhớ vai gầy lẵng qua cầu hát ngao

đêm thu phất phới hạnh đào

Vàng tay chín cả ngàn sao tự tình" (Hồ thu, chân sáo; LB tr. 77).

Những bài dài hơn, lục-bát biến thể mang hình-thức thơ tự do :

"mỏng tanh / đôi vú xuân hờ

lâm thâm nét cọ / đưa bờ vai / qua

chuôi mày xâm mặt nhợt / nhòa

con mắt sơ tán / mùa hoa nhiễm trùng

nữ mù / hồng lạp khuê dung

tựa môi chảy dọc

sống lưng bàng hoàng

mút tầm / thiên địa hỗn mang

bồ xương thạch dựng

non ngàn phẳng phiu

vạt . chia / băm nát

cầu / kiều

thoát giang trừng mộng

phù điêu / bãi

cồn (…)" (Xuân mù , vẽ, 8-03; trích ‘Thù Tạc’)

Về thơ tình thì Hoàng Xuân Sơn thiệt rất tình:

"trăng . liếm vào mặt em

xanh

khuya cây mắt nhắm

rung cành mộng mơ

ổ lá thắm

khúc đợi chờ

em linh nguyệt thấm hết

tơ tóc bày

mười lăm, thiếu một tầng

mây

trái vừa ửng chín trên cây

động tình

ru nằm

cội biếc u minh

tình tôi một bữa

van quỳnh thốt thưa "(Mười lăm, 6-05, tạp-chí Thơ)

‘Dịu dàng / em đến bên tôi

hình như . . . / hình như mình / đã biếng cười / rất lâu

từ trăm năm chụm mái đầu

từ xanh thơ dại nên mầu tóc tơ

từ yêu thương lẫn vực ngờ

chẳng qua chút bóng sương mờ đấy thôi !

hãy tin rằng : bấy cuộc đời

yêu em bạch nhật / suốt trời thanh thiên

hãy tin rằng : thịt xương liền

vào trong muôn kiếp / lậm tiền duyên nhau

sá gì / một gợn bể dâu

đã se cùng tát / lượng sầu nhân gian

cho xin / lời, tiếng / dịu dàng

xin nhau / đắm giữa vô vàn / cuộc yêu’ (Bài thơ dịu dàng, LB tr. 95)

Tác-giả đã bàn đến lục-bát biến thể của mình, một cách bất ngờ :

"Lục bát đủ kiểu nằm ngồi

đứng đi lổn nhổn gò-bồi-rạch-mương

nhốt trời vào họng tai ương

trả nhau về dạng bình thường tứ chi

lục bát đủ kiểu nhâm nhi

sáng lai rai . mỗ

chiều tì tì . ngươi

phải chi cái chiếu không lười

cái chăn không lạnh

chỗ chơi còn dài

giờ thì / lục bát cơm . nhai

trệu trạo cát sạn / đông / đoài / tít xa

lục bát lạc bút hoan ca

hồ – liu – xán – xự

kệ bà tuổi xuân" (Lục bát lạc bút, 7-04; trích ‘Thơ Phiêu’)

Cách-tân hình-thức đã là một hình thái của dấn thân sáng tạo. Nhà thơ dấn thân ở đây như chiến thuật mỹ học. Nên có khi đã … lạc đàng sang thế giới của Tân hình-thức, một Tân hình-thức ngập ngừng. Hoặc hình-thức mới nhưng hơi hướm lục-bát :

"Vạt nước hắt sương đi xa

trời mưa quyên đỗ / thâm tà áo / bâu

nên thơ từ vụng hôn / đầu

(…) (thơ cũ như là áo xưa chút hương theo gió chút mùa gửi trăng chút phân vân duột tơ tằm chút mình lẫn chút trăm năm bùi ngùi chút thân da thịt sần sùi chút tà dương vợi săm soi tuổi đời)

Chén hoài / ẩm / một chút thôi

men say cổ lụy nước ngời phúc âm …"(Cõi chia, Lục-Bát tr. 90, 93).

Hoặc đi xa hơn, nhập cùng cái mới của Tân hình-thức, dù nhạc tính vẫn vấn vương tâm tình:

"… Đêm đã bên ngoài tường thụy và / tàng cây khiết hồn. Thị Bằng lên

chơi phố núi. Ở khúc thanh bình / xưa lắm lộc trời. Nhuận cam vời

vợi rót. Bồ đào tinh khôi. Ở / đó giọt đàn êm sơn xuyến và

tiếng hát ni nhỏ nhẹ. Nụ cười / lành của hát. Hương quỳnh trên tóc

và chuôi mắt. Ta mang cho em / một đóa quỳnh. Không. Ta mang cho

em cả một khối tình. Lớn mãi. / Giờ này quỳnh đã ngủ hay vẫn

còn thức sông quyên đêm trói tình? / Hình như trăng vẫn sáng trên vai

mẹ gầy. Lâu lắm. Mới có một / lần ngửa đời uống vui từng giọt.

Và em. Bên cạnh ai. Không cần / biết em là ai. Là nữu-mai

-na-tiến? Không cần biết. Ta yêu…" (Đâu cần biết, Tạp-chí Thơ 28, xuân 2005; tác-giả chú ‘chữ in nghiêng: Lời nhạc Diệu Hương, Trịnh Công Sơn’).

Mới theo lý trí nhưng bản chất nòi tình vẫn ở lại nơi con chữ. Từ truyền thống, đã quen, phất ra phong cách thơ mới, khác, riêng, là một thể cách cá nhân hóa tác-phẩm, cá thể hóa kỹ thuật, tạo nét đặc thù Hoàng Xuân Sơn. Nếu văn-chương là một hình thức giao cảm, đối thoại, phát biểu của một cá nhân với tập thể của ngôn-ngữ sử dụng, thì những cách tân lục-bát cũng như Tân hình-thức là những thể cách sáng tác đặc biệt, tư biệt dù dễ đi đến lập dị! Từ đó có thể nói đến cá thể hóa kỹ thuật thơ lục-bát thành công, đáng kể, mà Tân hình-thức không có hoặc nói nhẹ hơn, khó có.

Ngôn-ngữ tài hoa khiến con chữ bất ngờ, như trong bài mà tựa đã là không dễ gì hiểu dối với người ngoài cuộc cờ chẳng hạn. Tựa là "1______________10":

"rõ ràng 1 / rõ ràng 2

mà sao 3 trắng / lại hài ra đen

lần 4 xúc xích / trụ đèn

tay 5 ngón thả / vào leng keng

đời / 6 ừ

lũng lẵng cuộc chơi

7 thất kinh 8 / bát lòi cửu âm

9 cầm 9 / bầm

9 hầm / 10 ngươi chẳng sợ

chút lầm lỡ / ta" (Sử Mặc, 3 . 4 . 07)

Hình-thức nhắc nhở bài lục-bát biến thể "Buồn chắn tã":

"Vệt son / cháy / tịch dương hồng

chao ơi môi má / còn hong giữa cười ?

( ‘ ) – ( ` ) / hóa dạng đôi mươi

( ? ) cho nơi ( ~ ) / (. ) lời âm cung

ầu ơ / ( x ) tánh khật khùng / ( . / . ) hai phương

biệt / sầu chung mối buồn …" (Lục Bát, tr. 40).

Ngoài chất tình, thơ Hoàng Xuân Sơn còn chất chứa suy tư, tri thức về đời, về con người và những khoảng trống siêu hình. Tâm thức kẻ nhược tiểu, rồi lưu vong, nghị lực có thừa nhưng đôi tay nghệ sĩ, lòng rộng mở, từ bi, nhưng cuộc đời nhiều vướng mắc, v.v.

Khi "Viết thay một người ở lại" rằng :

"… xin tạ lỗi trước hồn thiêng sông núi

trước anh linh từng chiến sĩ lên đường

xương máu ấy đã dung tình bội bạc

xin hôm nay bày tỏ một đôi lòng

tôi đã ước một hòa bình không tưởng

nên bây giờ tâm đảo, dạ cuồng điên" (VP, tr. 120).

Tập thơ đầu tay Viễn Phố gom được những vần thơ rực lửa của tấm lòng dân Việt trước nguy tàn của dân tộc bị bạo lực vô nhân dày xéo :

"… Hãy viết văn-chương bằng lời bút thép

Từng bài ca là mũi tên buông

Ta đứng thẳng trên trận tiền bão táp

Vạt nhọn thơ bắn gục lũ điên cuồng

(…) Xin trao gửi người đi phía trước

Thép mới nung bằng lửa ngục tù

Vách đá dựng lời thề tâm huyết

Đường gian nan bừng chí diệt thù

Đất nước sẽ mai này yên đẹp

núi sông dài sử Việt nghìn thu" (Gửi người đi trước, VP tr. 137-8).

"Thân dài hát kinh khổ đau

nhếch nhác bò qua sậy lau thụ hình

ôi tâm đời / thiêng / u minh

bấu xấu vào nỗi lạ

tình riêng / mang đi tan đi tan đi

(tan) / dữ dằn mộng hóa tin …"(Tâm đời; LB tr. 81).

*

Trong thế-giới thi ca Hoàng Xuân Sơn, thời-gian đã nhập vào thơ, thời-gian đã chết đi để hóa thân và nhắm trường cửu. Thế-giới đó trước hết là của riêng ông mà cũng có thể là của nhiều người (mấy ai có thể tự hào thơ mình là của tất cả mọi người?). Bị mê cung thi-ca quyến rủ, nhà thơ chịu trận kiếp người, không muốn làm tiên tri, chỉ mong làm nhân chứng. Một thế-giới thơ tự thu hẹp với những con chữ nên thơ và hiện đại. Ông đã trình diện thơ với đời, đã phân trần và đối thoại với người với đời, ông đi tìm giao cảm, mong được cảm nhận, với người đương thời và hậu thế. Hoàng Xuân Sơn vận dụng tâm thức, cảm xúc và đã để lại bản ngã và hành trạng của mình trong thơ, trong ngôn-ngữ và nhạc điệu thơ, một bản ngã dĩ nhiên rất riêng.

Ngôn-ngữ thơ trở nên ngôn-ngữ của đồng cảm. Sáng tạo qua giao cảm, nhắm đồng cảm, … đã rút ngắn khoảng cách người thơ và người thưởng lãm. Đây là khía cạnh nổi của Hoàng Xuân Sơn, yếu tố khiến nhà thơ đạt được hoài vọng mà người đón nhận thơ cũng lọt vào vòng giao cảm. Nhưng cũng là lý do khiến có phàn nàn dị ứng rằng thơ ông bí hiểm ‘cầu kỳ, rắm rối’, nếu có chăng là bản chất trí thức và thổ âm của con chữ trong thơ ông! Thơ ông xuất phát từ Huế nhưng đồng thời trở về Huế; thơ chất Huế, nhưng thơ ông nhờ có ngôn-ngữ nghệ thuật riêng đã đi xa hơn, đã vượt trên cả địa dư Huế.

Hoàng Xuân Sơn cũng như mỗi nhà thơ đã đưa cái độc đáo của riêng mình nhập thành cái đa dạng của kho tàng thi ca, đa dạng về ngôn-ngữ, về cách vận dụng con chữ, khiến đa dạng về cách đón nhận tha nhân và thế-giới. Ngôn-ngữ một dân-tộc là kho tín hiệu chung, truyền thừa từ các thế hệ; nhưng các nghệ sĩ, nhất là các nhà thơ, qua vận động trí thức, trực giác, cảm xúc riêng, với những ‘thấu thị’, ‘tột cùng’, mà mang đến những cảm thức mới, riêng, qua con chữ, mang đến ‘nội-dung’ hoặc ‘áo khoác’ mới cho con chữ. Với Hoàng Xuân Sơn, là những ‘mưa xanh’, ‘áo tuyết’, ‘con mắt sơ tán’, ‘mưa xưa tê liệt nỗi niềm’, ‘dáng tôi dáng chiều’, ‘mắt môi cuống cuồng’, ‘cuộc tình kim châm muối xát’, v.v. Những con chữ gây bất ngờ : ‘khỏa thây", ‘vụng hôn đầu’, ‘gọi vong’,

Thời cuối thập niên 1930 của thế-kỷ XX, đã có một Huy Cận của Tràng Giang buồn, có thể nay thêm một Hoàng Xuân Sơn của Huế Buồn Chi ? Thật vậy, với biến cố 30-4-1975, mê cung thi-ca đã đón nhận thêm Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ muôn thuở buồn, nhà thơ của ‘thiên sử buồn’:

‘Bạn nhủ: làm thơ là lộc thánh trời ban

đừng bỏ qua rất uổng

ừ, lộc trời

mà sao chỉ nuốt toàn trái đắng’ (Xưa, lộc trời; trích ‘Thơ Quỳnh’).

Nguyễn Vy Khanh

10-10-2007

Bài đã đăng của Nguyễn Vy Khanh

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Ban biên tập Trên Kệ Sách dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập trước khi phổ biến.