Trang chính » Biên khảo, Café cuối tuần, Nhận định In bài này Email bài này

TIẾP THEO SAU “SÁCH ĐỎ”…

Trần Thiện Huy | 24.08.2008 3 bình luận |

Trần Thiện Huy

WolfTotem “Totem sói”, theo chữ Hán là “Lang đồ đằng”, tạo nên tiếng vang khi trở thành cuốn sách bán chạy thứ nhì trong lịch sử Trung Quốc, chỉ sau cuốn “Sách đỏ” của cố chủ tịch Mao Trạch Đông. Như vậy – giả định là ngày nay người ta không còn say sưa đọc “Sách đỏ” nữa – về một mặt nào đó, nó đã kế vị và tiếp nối cho cuốn sách kia trong vị thế ảnh hưởng đến tâm lý và hành động của người Trung Quốc đương đại. Dĩ nhiên, so sánh với tác phẩm của Mao, nhà lãnh tụ quyền lực của quốc gia, thì Totem sói chỉ có một ảnh hưởng cục bộ, phiếm diện và không thoát ra được nhiều khỏi phạm vi văn hoá – vốn không nhất thiết quyết định được gì nhiều về hiện trạng và tương lai cận kề của một quốc gia. Tôi vẫn thường nghe các nhà trí thức Việt nam nhắc đến, một cách thán phục và ao ước, sự kiện cuốn “Bàn về tự do” (On Liberty) của John Stuart Mill bán được 2 triệu bản ở một nước Nhật có dân số 36 triệu người, nhưng không ai nhìn ra được một chút dấu vết lý tưởng tự do nào trong những biến cố chính trị và lịch sử Nhật bản từ thời điểm đó cho đến 1945, trước khi khái niệm tự do và dân chủ, theo như Mill hiểu (có lẽ), được áp đặt vào đảo quốc này bằng nòng súng và lưỡi lê của đạo quân chiếm đóng.

Không thể theo dõi được cuộc tranh luận về Totem sói ngay tại quê nhà và bằng ngôn ngữ tự nhiên của nó, bài viết này đành phải giới hạn trong việc giới thiệu và so sánh sự tiếp nhận của trí thức Việt nam và đại chúng khối Tây phương nói tiếng Anh đối với tác phẩm. Dù chỉ giới hạn trong những tài liệu bằng hai ngôn ngữ Anh và Việt, vẫn có thể thấy được giá trị của tác phẩm này như một trắc nghiệm Rorschach, một thứ lăng kính mà qua đó, những gì người ta thấy và không thấy nói lên được một thứ trật tự nội quan tuy dật dờ khó nắm bắt, nhưng lại có một sự vững chắc và ngăn nắp đáng kể; một thứ hào dịch vô hình trong cách suy nghĩ, có cội rễ sâu xa là những lịch sử trải nghiệm, những ao ước chủ quan, và tận cùng sâu nhất, có lẽ là những nỗi sợ hãi tiềm ẩn trong thế hệ này của mỗi dân tộc.

A. Từ “Tô – tem sói” và nỗi ám ảnh về phương Bắc…

Khi nói đến “nỗi sợ hãi”, tôi có ý nghĩ đến một cảm thức tâm lý có tính cách bản năng, hay ít nhất cũng là vô thức; một cái gì đó không được nhìn nhận hoàn toàn khi lý trí đang hoạt động. “Bản năng” hay “vô thức” ở đây không có ý nghĩa tăm tối gì, nhất là không hàm ý một di chứng thấp kém từ trong quá khứ đang tiến hoá và sinh tồn, mà chỉ là một dấu vết lịch sử, và là lịch sử văn hoá. Đồng thời, nó cũng chỉ là một góc độ và mức độ của vấn đề, kể cả trong giới hạn bài này, nên mong rằng các tác giả được nêu ra ở đây không cảm thấy ý nghĩ của mình bị nhắc đến trong cung cách luận chiến. Bài này có mục đích tìm hiểu một cách giới hạn thực trạng của một nền văn học từ những quan hệ đa chiều, và kết luận theo hướng đó, không có ngụ ý phê phán gì cả.

Bài viết của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy trên Talawas tường thuật một buổi thảo luận giữa một số “nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học” và “dịch giả, văn nghệ sĩ có tiếng tại Hà nội”. Buổi thảo luận này như tác giả cho biết, xoáy vào vấn đề: Totem sói là văn chương hay chính trị, phát-xít hay không phát-xít – sự quan hệ giữa các cách đánh giá có vẻ như quan hệ giữa buộc tội và bào chữa. Trong khi thế giới vừa để tang Solzhenitsyn và trước đó, kỷ niệm ngày giỗ một khuôn mặt có tầm vóc nhân văn thấp hơn và nhiều tính chính trị hơn là Georges Orwell (tuy cả hai sự kiện đều xảy ra sau cuộc thảo luận nói trên, nhưng tôi không cho là có vị nào tham gia thảo luận vào lúc đó lại không biết đến hai khuôn mặt kia hay cho là cái họ viết không phải là văn chương vì mang đề tài chính trị), rõ ràng lập luận “văn chương hay là chính trị” (mà theo tường thuật của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, ta có thể coi như một cách tóm tắt thích hợp về khía cạnh của buổi tranh luận) cần phải hiểu theo một nghĩa sâu xa và cụ thể hơn. Đó là, tác phẩm này, ngoài sự thành công vì đã dấy lên một dư luận chính trị, có thật sự mang giá trị văn chương gì không, và có đáng đọc như một tác phẩm văn chương (ít nhất đối với người Việt) không?

Nếu hiểu mối quan tâm của các vị diễn giả như vậy, ta lại phải thắc mắc từ đâu nảy sinh nhu cầu giám định giá trị văn chương cho một tác phẩm ăn khách giùm cho thị trường và độc giả? Những bức xúc nào, và những tiêu chí nào, đưa đến việc các diễn giả tụ họp để đánh giá “Totem sói” – không phải như hoạt động phê bình văn học mà gần như một hội đồng giám định – là nên hay không nên được dịch và được đọc? Một sự tự giác kiểm duyệt mình như vậy là một hiện tượng rất hiếm hoi trong môi trường trí thức ở bất cứ nơi đâu, không kể Việt Nam. Khách quan mà nhìn nhận, hẳn tất cả mọi diễn giả có mặt ở đó đều phải thừa nhận nếu như Trung Quốc vì cuốn sách này mà đi vào con đường phát-xít, điều đó không thể nào dẫn đến chuyện Việt Nam cũng sẽ phát-xít hóa hay một nguy cơ gì tương tự; ngược lại, nó còn là một lý do chính đáng hơn hết để mọi người dân Việt Nam đọc và theo dõi những biến chuyển đang xảy ra ở nước láng giềng.

Tôi có cảm giác ngay từ việc buổi hội thảo này được tổ chức, người ta nhìn thấy có một ấn tượng vô hình nhưng cận kề đang luẩn quẩn trong không gian trí thức Việt Nam – ấn tượng về nguy cơ bành trướng bá quyền Trung Quốc như một cái gì tà ác phản lý trí, hủy diệt một cách mù quáng, một thứ bệnh ung thư đe dọa cuộc sống an toàn và lành mạnh lây lan không phân biệt những biên giới địa lý hay điều kiện lịch sử, và cần phải ngăn chặn không cho lan tới người Việt. Câu hỏi và câu trả lời của các diễn giả đều gần như có tính cách giải quyết vấn đề đó cho yên tâm trước khi bắt tay vào dịch và đọc. Mặc dù lập luận của các diễn giả đều rất bình tĩnh và xác đáng, tôi vẫn cảm thấy có cái gì đó bất ổn về việc người ta phải bảo vệ một cuốn sách vốn đã được dịch và tung ra thị trường, và cái gì đó đáng suy nghĩ về những lời nói của cụ Nguyễn Trung:

“Nói thật là tôi cảm thấy sợ. Tôi thừa nhận Tôtem sói mang lại nhiều điều mới lạ, hấp dẫn, nhưng nếu kêu gọi khuyến khích sói tính như vậy thì tôi thấy rất sợ”.

Cách diễn đạt sự lo ngại tác hại của “Totem sói” trong bài viết của Phạm Lưu Vũ là dưới hình thức quan điểm cá nhân, do đó, có những giới hạn nhất định đồng thời với những giá trị tham khảo riêng biệt rất thú vị. Ngược lại với đa số ý kiến các diễn giả ở trên, tác giả Phạm Lưu Vũ xác quyết rằng Totem sói rất kém tính cách văn chương, và phát biểu một cách thẳng thừng điều mà nhiều vị diễn giả ở trên đồng ý một cách chừng mực: đây là một tác phẩm mang tư tưởng phát-xít.

Cái mà tôi gọi là “giá trị tham khảo” nằm ở sự mâu thuẫn hình như không hòa giải được giữa hai đoạn văn trong cùng bài viết này:

Dù sao cũng phải cám ơn ông Trần Đình Hiến đã bỏ công dịch cuốn sách này để giúp chúng ta hình dung, rằng những “sói tính” ghê gớm kia không chỉ len lỏi dưới dạng thuốc độc, thuốc gây ung thư hay những cú điện giật trong vô vàn kiểu hàng hoá, thực phẩm, kem đánh răng, đồ chơi trẻ em… mang nhãn hiệu Made in China đang tràn ngập khắp thế gian mà báo chí trong nước và khắp nơi trên thế giới đang đề cập. Mà cả trong văn chương nữa.

Và ở dưới:

Cuối cùng chỉ băn khoăn một điều. Rằng nhà xuất bản Công an Nhân dân tất phải đứng về phía nhân dân. Mà đã “nhân dân” tất phải yêu chuộng hoà bình. Phải chăng nhà xuất bản có “thâm ý” xuất bản cuốn sách này để nhân dân “nâng cao cảnh giác” với cái tư tưởng “sô vanh sói” kia đang hàng ngày hàng giờ phà cái hơi tanh tưởi của nó vào những hải đảo, biên cương… thậm chí phà vào tận gáy ta, vào những bàn tay, ánh mắt trẻ thơ, vào cả cái dạ dày của ta nữa…? Ôi! Nếu có được cái “thâm ý” ấy thì tốt quá. Đáng tiếc hình như sự thật không phải như vậy.

Có lẽ tác giả Phạm Lưu Vũ muốn chỉ trích thái độ giới thiệu và cung cách đánh giá tác phẩm của nhà xuất bản? Dù sao đi nữa, phổ biến bằng tư liệu trực tiếp về những chuyển biến tại một nước láng giềng, về một mối nguy cơ khả dĩ đe dọa Việt Nam, sao lại tạo ra sự phẫn nộ trong giới trí thức đến như vậy? Vì nguy cơ lan truyền chủ nghĩa Đại Hán trong dân tộc Việt Nam?

Bài viết của tác giả Hà Văn Thùy có mức độ khách quan tương đối cao và tiếp cận vấn đề từ một cái nhìn đại đồng. Nhưng ta vẫn có cảm giác phê phán của ông bao gồm hai phần: một phần về những giá trị nhân văn sai lệch mà Khương Nhung chủ trương, một phần thuần túy là về mâu thuẫn nhân thân (identity) giữa hai chủng tộc Hán Hoa bắc và Việt phương Nam. Tôi có cảm giác rằng theo tác giả, tự nhân thân sắc tộc đã vạch ra hai thế giới chân lý, vạch ra một lằn ranh thiện ác, và bản thân huyết thống cùng với những hình thức sinh hoạt phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi sắc tộc chính là một thứ vũ khí văn hóa mà bên này có thể áp đặt lên bên kia. Có vẻ như tác giả cố thức tỉnh con người Bách Việt bên trong Khương Nhung để tiêu diệt con người Mông Cổ, thay vì tranh luận và thuyết phục nó. Nhất là trên một trang web Việt, tôi nghi ngờ rằng Khương Nhung thật sự chính là độc giả mà tác giả Hà Văn Thùy hướng đến…

Thiết tưởng cũng nên nhắc đến bài viết của nhà văn Châu Diên, để liệt kê hoàn chỉnh những tham luận đã xuất hiện trên trang Talawas[1]. Bài viết này không có ý tưởng gì quan trọng; chủ đề chính của nó là Totem sói đã đóng góp một góc nhìn và một tầm nhìn mới cho “bạn đọc” (hẳn là người Trung Quốc trước, rồi tới người Việt) xem xét lại quá khứ của mình. Cái thú vị của bài này ở chỗ, ngay từ cách đặt tên, ông không coi ý tưởng đặc sắc nhất của truyện này là ca ngợi sói, mà là phê phán cừu:

Phong trào dân chủ hoá kia đã tức nước vỡ bờ từ vô số chính sách cai trị đất nước quái đản của Mao Trạch Đông. Thế nhưng, bây giờ, gặp bất kỳ ai bên Trung Hoa, nếu được hỏi về nhân vật họ Mao, câu trả lời sẽ hệt như nhau “năm mươi phần trăm công, năm mươi phần trăm tội”. Có khi tỷ lệ xê xích, ba mươi bảy mươi hoặc bảy mươi ba mươi. Nhưng gần trăm phần trăm dân chúng có cùng giọng như vậy. Điều đáng sợ, ấy là cái sự “nhất trí cao” đến thế. Nhưng thế nào là ”năm mươi phần trăm” hoặc thậm chí “ba mươi phần trăm” tội nhỉ? Khi một bà mẹ có một đứa con chết oan, khi đàn con có bố hoặc mẹ chết oan, thì bàn tay vấy máu đã gây ra một trăm phần trăm hay bao nhiêu phần trăm tội ác? Sao lại có hẳn một tỉ rưỡi người dễ dàng chấp nhận cái tỷ lệ dửng dưng đến vậy?

Những cái nhìn rất khác biệt của các nhà bình luận người Việt đã tạm cho phép tôi tổng kết vài ý sau đây về văn học Trung Quốc hiện đại, đặc biệt là về liên hệ của nó với người Việt (trước khi trình bày, xin được thưa trước đây không phải những chân lý toán học, và gia giảm rất phức tạp theo tùy người, tùy cảnh):

1. Thử hình dung Trung Quốc như một con khủng long được đặt vào giữa một vùng đất nơi có vô số sinh vật đang sống chen chúc. Không thể nào tránh khỏi ý nghĩ đầu tiên của người ta về nó là ý nghĩ về một mối đe dọa đến từ tầm vóc của nó, về chuyện mỗi lần cựa mình nó phải đụng chạm và gây tổn thương cho bao nhiêu sinh vật. Ngày nay, khi đứng trước bất cứ một chuyển động nào từ phía Trung Quốc, một cường quốc khu vực, mối ưu tư về những ảnh hưởng của nó đối với các dân tộc lân cận sẽ chiếm một vai trò chủ đạo trong cách người ta nhìn và đánh giá chuyển động đó. Đó là cách người Việt đọc những tác phẩm gây chuyển động như Totem sói, và tôi nghĩ ít nhiều gì thì nhận xét đó cũng phản ảnh được cách đọc của người Thái, Cam bốt, Lào, của Tây Tạng, Nhật bản, Miến điện, và có lẽ là cả của phương Tây.

Ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, có lẽ Việt Nam là nơi văn học Trung Quốc được truyền bá tích cực và phong phú nhất, nên có thể nói rằng những phản hồi của độc giả Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong địa vị của văn học Trung Quốc ở bên ngoài. Những quan hệ lịch sử đã làm cho hai dân tộc, nhất là về phía Việt Nam, đặt mình vào vị trí đối lập. Sự đối lập đã được phóng ảnh vào bất cứ cặp phạm trù nào: Bắc chống với Nam, đồng ruộng chống với thảo nguyên, văn minh lúa nước chống với văn minh du mục, v.v., gần như đã biến thành những quan hệ mang màu sắc Manichean (thiện ác đối lập) thay vì là những kết quả từ sự ngẫu nhiên của lịch sử và địa lý. Cảm tình đối với sự lựa chọn đề tài và bối cảnh trong tác phẩm văn học cũng gia giảm theo hướng ấy.

2. Sự đối lập Việt – Hán đã làm cho người Việt dễ dàng (gần như theo một phản xạ) tự nhận diện mình với vai trò nạn nhân và người phản kháng trong mọi trường hợp. Chúng ta nhìn thấy ở Totem sói ngay trước tiên, là triết lý sống xông xáo, mạnh bạo, tấn công (aggressive), rồi mới nhìn thấy – nếu như có nhìn thấy – rằng sự tấn công đó, sự quyết liệt đó, trong Totem sói, chính là nhắm vào sự an phận thủ thường đến mức nô lệ của người Trung Quốc, sự thờ ơ u tối phá hoại môi trường sống, tình trạng cạn kiệt dần những phương thức tạo sinh kế cho dân tộc… hơn là nhắm vào lãnh thổ và sự bình yên của các dân tộc khác. Vì nhận thức theo một tuần tự như vậy, chúng ta dễ dàng tự nhận diện mình như nạn nhân bị tấn công, bị đe dọa, và báo động tất cả bản năng tự vệ, kể cả một hình thức “chức năng kháng bệnh” của xã hội khi mới chạm mặt với tư tưởng – dù đúng hay sai, thích hợp hay cực đoan – của Khương Nhung. Có ai thật sự tin rằng, nếu Totem sói đã được viết ra bởi một dân tộc khác, nó cũng gây nên bấy nhiêu tranh luận hay không?

3. Người Việt ngày nay – cũng như người phương Tây – khi đọc văn học Trung Quốc đương đại thường chú trọng đến một giá trị, một đề tài duy nhất: đó là những nội dung theo kiểu “Tổ quốc ăn năn”, đặc biệt là tố cáo những tệ nạn hay thảm cảnh của chế độ phong kiến và thời kỳ Mao Trạch Đông. Gần như người ta chỉ dịch và đọc văn học Trung Quốc để thưởng thức đề tài này, mặc nhiên đồng hóa cuộc sống và văn hóa Trung Quốc đương đại với nó. Và hình như cái mà người ta còn đang trông đợi ở văn học đương đại Trung Quốc, cũng chỉ là những tố cáo (exposé) các tệ nạn hay thảm cảnh của thời kỳ sau Mao Trạch Đông, như ở Tây Tạng, v.v., sự trông đợi mà các nhà phê bình phương Tây thật sự muốn đề cập đến khi họ phàn nàn là văn học đương đại Trung Quốc chẳng có gì đáng kể.

Đó là những giới hạn quan trọng làm cho văn học Trung Quốc không phổ biến rộng rãi ra ngoài và được tiếp nhận một cách công bình và hợp lý. Vẫn biết rằng nó mang cái tội nguyên tổ là công cụ bị kiểm soát, hay ít nhất cũng là những tiếng nói được thông qua bởi chính quyền, nhưng nó vẫn là sự phản ảnh suy nghĩ và sinh hoạt của một góc lớn dân số địa cầu. Totem sói, nếu không phải vì tiếng vang mà nó đã tạo ra được trong xã hội Trung Quốc, có lẽ sẽ khó có cơ hội đến được tay chúng ta. Nhưng từ sự nghi kỵ, đả kích, và cả sự bào chữa của chúng ta, tôi không thấy một khả năng tươi sáng lắm cho sự thưởng ngoạn những tác phẩm có đề tài mới lạ từ nền văn học này sẽ được giới thiệu kế tiếp ở Việt Nam. Chúng ta yên tâm và thoải mái mà đọc “Sống và chết ở Thượng Hải” hơn rất nhiều, cũng như trước kia chúng ta đã từng đọc “Sách đỏ”…

Sau cùng xin mở một chú thích: Trang mạng Talawas cần được tri ân vì đã làm cái nôi cho phần lớn cuộc thảo luận về Totem sói bằng tiếng Việt. Độc giả cũng có thể tìm được chương 1, chương 5, chương kết và lời giới thiệu của Mã Ba Thuấn cho tác phẩm ở đây. Cũng trên Talawas, tác giả Hà Minh đã làm rất tốt công việc tóm lược toàn bộ nội dung và ý tưởng trong tác phẩm.

B. Đến “Wolf Totem” – 100,000 dollars và một mơ ước bị uổng phí?

Khương Nhung đã từng phát biểu ở một cuộc phỏng vấn nào đó:

“Tôi nghiên cứu về chính trị và chủ nghĩa tự do; tinh thần tự do là cái tôi muốn diễn tả”.[2]

Và ông hy vọng:

“Tôi nghĩ rằng ở Tây phương, người ta sẽ hiểu nó đầy đủ hơn”.[3]

Tôi nghĩ là ông đã thất vọng. Nhà xuất bản Penguin đã bỏ ra 100,000 dollars, số tiền được coi là kỷ lục để mua tác quyền một tác phẩm ngoại quốc, để dịch và xuất bản nó bằng tiếng Anh. Cũng như với đa số sách dịch, thị trường các nước nói tiếng Anh đã tương đối bỏ lơ nó. Bộ phim dựa trên tác phẩm hiện chưa ra đời để ta biết được kết quả. Sự quan tâm ít ỏi – dù là nổi bật –Khuơng Nhung nhận được từ dư luận tiếng Anh cũng không đuợc ưu ái gì cho lắm. Nhà bình luận Pankaj Mishra của tờ New York Times đánh giá cuốn sách:

“Sự chú tâm của tác giả vào độc giả người Hoa của ông chưa phải là lý do duy nhất gây ra sự bực dọc cho độc giả ngoại quốc… Khương Nhung chỉ để ý rất sơ sài vào việc chuyển thể những trải nghiệm và khám phá của ông cho thành ra tiểu thuyết… Câu chuyện học hỏi nghề du mục của nhân vật chính, Trần Trận, được thuật lại bằng giọng điệu dẫn dắt rất vụng về, đầy dẫy những bài thuyết giảng…”

Tờ Los Angeles Times cũng cùng một quan điểm, và gần như dùng những từ ngữ y hệt:

“Đáng tiếc thay, tác giả đi chệch ra khỏi những chất liệu sinh động ngay trước mắt và lang thang vào địa hạt thuyết giảng triết lý. Giá như Khương (sic) thay vì suy tư dông dài về “linh hồn của người Trung Hoa” lại tập trung hơn nữa vào linh hồn câu truyện của ông, nó có thể đã là một tiểu thuyết sáng chói. Ngược lại, nó đã thất bại không thể vượt lên khỏi mức tầm thường và nhiều lúc mấp mé ở chỗ lẩn thẩn.”

Để quân bằng lại, ta cũng nên nhắc đến sự kiện “Totem sói” đoạt giải Man cho Văn học châu Á năm 2007. Chánh chủ khảo của giải đã ca ngợi cuốn sách là “một tác phẩm bậc thầy” và “cuốn sách không ai giống được.”[4] Nhưng với hai bài điểm sách trên, có thể thấy những dấu hiệu đầy trắc trở cho việc bản dịch cuốn sách được đón nhận nồng nhiệt, ít nhất là trên thị trường Mỹ quốc. Người viết bài đã có một kinh nghiệm phản ảnh khía cạnh thực tế về chuyện này khi không tìm ra một tiệm sách nào có bán Wolf Totem trong khắp thành phố Houston, là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ.

Cũng có thể tương lai sẽ đáp ứng nguyện vọng bán được 2 triệu ấn bản Wolf Totem của nhà xuất bản Penguin, cũng như hy vọng của Khương Nhung về sự tương đồng của phương Tây với ý tưởng của ông sẽ trở thành hiện thực. Vấn đề là ở chỗ: người ta có vẻ như không có nhiều thiện chí muốn tìm hiểu về tác giả hay tác phẩm, hoặc những gì quá đậm và quá thuần chất Trung Quốc mà một người cầm bút gốc Hoa ở phương Tây hoặc đã đánh mất từ lâu, hoặc đã cố ý tự sàng lọc ra. Một nhà bình luận chuyên nghiệp đến mức có bài trên tờ Los Angeles Times mà lại mù tịt về bút hiệu Khương Nhung của tác giả đến nỗi coi Jiang (Khương) là một cái họ. (Bút hiệu “Khương Nhung” không phải là một cái tên thông thường gồm tên gọi (first name) và tên họ (last name), mà cả hai chữ “Khương Nhung” có nghĩa là “mọi Tây” (Western Barbarian). Gọi tác giả là “ông Khương” cũng tương đương như chuyện gọi vua Quang Trung gọn lỏn là Emperor Quang, nó mất đi cả ý nghĩa của cái tên được chọn). Khi đi mua sách, tôi còn phát hiện ra một chi tiết thú vị hơn: trong thư mục của Barnes and Noble, công ty bán sách lớn nhất nước Mỹ, và có lẽ, cả thế giới, tên tác giả được liệt kê bằng tên họ “Rong” (Nhung). Không phải người ta không chú tâm đến ý tưởng chính của những gì ông nói; họ chỉ cảm thấy quá bỡ ngỡ trước một nền văn hóa và cách diễn đạt xa lạ đến từng tiểu tiết – họ sẽ thoải mái hơn nhiều nếu một tên tuổi nào đó tương tự như Amy Tan hay Maxine Hong Kingston là người ngồi chấp bút lại “những chất liệu sinh động” của ông, và hẳn sẽ dễ dàng hân thưởng câu chuyện về “cách mạng, sự hủy hoại môi trường, con người chống lại thiên nhiên, xung đột các nền văn hóa, truyền thống và tập quán” (Los Angeles Times, bài dẫn ở trên).

Đã từ lâu, người phương Tây quên mất rằng cái khó chịu khi đọc một tác phẩm ngoại quốc “dở” chính là phản ứng của một tư duy bị thách đố phải quy chiếu theo một bề dày nền tảng đằng sau mỗi nét bút xuất hiện trên mặt giấy. Việc đề cập đến tác giả bằng một cách gọi không thích hợp chứng tỏ một sự phủ nhận, hay một thái độ tránh né không muốn tìm hiểu, đối với bối cảnh ngữ học và lịch sử có chiều dài hàng ngàn năm và chiều rộng của các quy luật, các quan niệm và các cấu trúc bao quát hơn hẳn bối cảnh của bất cứ nền văn minh nào khác. Những nhà bình luận trên đã quên rằng, lý do hàng triệu – thậm chí hàng chục triệu có lẽ, nếu tính đầu sách in lậu và truyền tay – người Trung Quốc đã tiếp nhận Totem sói không những chỉ vì nội dung của nó có gì mới mẻ hấp dẫn họ, mà còn vì nó không có gì công kích hay vi phạm vào cảm quan mỹ học của họ đối với thể loại tiểu thuyết.

Chỉ vì Totem sói đã thành công như một cuốn tiểu thuyết, người ta đã đem nó ra so sánh và bắt nó phải giống với những cuốn tiểu thuyết thành công; trong khi có thể thấy rất rõ từ nội dung tác phẩm và những giai thoại ít ỏi về lai lịch của nó rằng sự chuẩn mực và hoàn thiện trong kỹ thuật tiểu thuyết của mình không phải là mục tiêu đã ám ảnh Khương Nhung, và dứt khoát không phải là điều ông đã nghiền ngẫm suốt ba mươi năm trời. Thậm chí, giả như đã cố ý viết một cuốn tiểu thuyết có nghệ thuật cao thì chưa chắc ông đã đủ sức theo đuổi đến cùng để hoàn thành cuốn sách. Là một trí thức Trung Quốc, Khương Nhung thừa kế một truyền thống văn hóa mà motif nổi bật của nó là tinh thần “ưu hoạn”, nghĩa là, lý tưởng đề cao trách nhiệm suy tư về lợi ích của quốc gia, và sự cống hiến tích cực bằng tư tưởng vào việc nâng cao tầm mức văn hóa cho dân tộc Trung Hoa, trái ngược với trí thức Tây phương đề cao sự sáng tạo và vượt thoát của tư duy và tri thức. Người trí thức Trung Hoa không chú trọng vào việc khai phá những khả thể tư tưởng, mà vào chức năng xã hội của giai cấp mình như Phạm Trọng Yêm đời Tống đã định nghĩa: “Sĩ đương tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc.” (Trí thức lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.)

Tinh thần ưu hoạn, như một tiên đề chung – hay có lẽ, tiên đề chung duy nhất – được nhìn nhận giữa những người trí thức Trung Quốc, đã đóng vai một giá trị xác thực hóa và thẩm mỹ hóa, cũng như đặt giới hạn cho mọi phát biểu của họ. Những hệ thống mà Tây phương đã dày công xây dựng, sau khi du nhập vào Trung Quốc, đều bén rễ và mọc lên một đời sống song trùng và lai tạo: người Trung Quốc sẽ biến đổi chúng từ mức độ bản chất để thuần túy chỉ còn là phương tiện chuyển tải và gợi ý mới cho sự suy tư phê phán đầy trách nhiệm ái quốc của họ. Hình thức tiểu thuyết hiện đại cũng không phải là ngoại lệ; văn học Trung Quốc hiện đại đầy dẫy các đại biểu cho những luồng tư tưởng, các nhà cách mạng, nhà cải cách. Viết văn đối với họ là một sự ưu tư, không phải là một hành động của khoái cảm thẩm mỹ. Dĩ nhiên, phải nhìn nhận Khương Nhung không có cái biệt tài tự nhiên của một ngòi bút như Lỗ Tấn; nhưng thể loại mà ông nhắm đến là một cái gì đó khác: sáng sủa, rõ ràng, dễ hiểu, nhiều thông tin kỳ thú – một tác phẩm theo kiểu thuyền trưởng Cousteau về thảo nguyên và về lịch sử.

Người ta đã chú ý đến cuốn sách vì nó có được vài triệu độc giả ở Trung Quốc, nhưng lại coi thường cách người Trung Quốc đọc sách. Các nhà bình luận ở trên đã nhìn cuốn sách theo cách một chiều và chủ quan như thể nó là một sản phẩm nội địa của Âu – Mỹ.

Tách biệt ra khỏi xã hội Trung Quốc, khỏi nội dung có tính cách kêu gọi của nó, Totem sói quả thật là một cuốn truyện tầm thường. Những nội dung ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi sự dũng mãnh của chủng loại chó sói, người Âu Mỹ đã đọc, và còn bị xúc động hơn nhiều, từ thời những năm 1898 – 1900 trong tác phẩm của Ernest Thompson Seton, và có thể, thậm chí còn sớm hơn thế nữa.

Tuy nhiên, hãy thử công bằng so sánh nó với, chẳng hạn, cuốn “Martin Eden” của Jack London. Sự tương tự giữa hai tác phẩm mà tôi thấy chính là, trong số những tiểu thuyết nổi tiếng, cả hai đều không phải tác phẩm có phong cách bậc thầy – cũng một chủ đích bộc trực đến mức chất phác mong truyền đạt thật nhanh và đủ một tư tưởng triết lý, cũng một giọng điệu sôi nổi không gọt dũa, một sự thiếu hụt kỹ thuật tiểu thuyết dưới mức vừa phải. Cả hai đều phạm phải cái lỗi là có lẽ có nhiều lý luận triết học quá mức tiêu thụ của một độc giả Âu Mỹ phổ thông thời nay. Cả hai không khác biệt gì về cấu trúc, về nhịp độ dẫn truyện, về mức độ lôi cuốn. “Martin Eden” ưu việt hơn ở chỗ có “nhân tính”, nghĩa là, miêu tả về cuộc đời một con người; Totem sói hơn ở chỗ có bối cảnh thiên nhiên phong phú và đầy biến động. Tôi cảm thấy rằng, ít nhất người ta cũng đã có thể công bằng hơn và nhận định đơn giản rằng cuốn sách này đã không đi theo những tiến bộ của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại. Với một sự hiểu biết trung bình như bất cứ ai quan tâm cũng có thể tìm được về cuộc đời tác giả, người ta sẽ thấy đấy là một lời bình luận xác đáng và có chứa đựng sự cảm thông đúng mực.

Và sau cùng, điểm mà tôi muốn nhắc đến là, cái liều lượng triết lý quá mức mà các nhà bình luận phương Tây phàn nàn ở trên thật ra còn thiếu nhiều so với nguyên bản. Bản dịch bằng tiếng Anh đã cắt bỏ những đoạn “dài hơi” nhất, như trong chương kết, chỗ Khương Nhung dành toàn bộ chiều dài và mượn đối thoại của nhân vật để trình bày những lý thuyết lịch sử – chính trị của mình. Phương Tây có những quan niệm rất rõ ràng về thế nào là nhà văn, có một sự dự liệu nào đó về những lời lẽ mà một nhà văn sẽ dùng, và nó sẽ kiểm duyệt đi những phần thừa thãi chìa ra bên ngoài cái khuôn ấy để một nhà văn thật sự “giống” một nhà văn.

Ghi nhớ điều này có lẽ sẽ hữu ích cho các nhà văn và những ai muốn tìm hiểu về thị hiếu phương Tây rằng những năm tháng chiến tranh ý thức hệ, nơi viên đạn đầu tiên luôn được bắn ra từ bộ óc vĩ đại của các nhà lập thuyết, đã ghi khắc một ký ức không phai mờ trong tâm khảm châu Âu, khiến cho ngày nay họ chỉ thấy an toàn và tin tưởng bên cạnh những gì thuộc về thị trường và bàn giấy – một thứ lý tưởng công chức theo triết học Hegel đã được Kojève thuần hóa. Còn nước Mỹ, nó chính là thị trường, không gì khác hơn cả, và một cái thị trường bao gồm tất cả mọi người, mọi việc, luôn luôn có vấn đề về người mua khi nó muốn bán một món hàng mà chính bản thân nó không có chỗ dùng.

Ghi nhận tất cả những điều đó, tôi không có ý lập lại những phê phán đã quá nhiều – và rất thích đáng, theo thiển ý – về sự ấu trĩ và hạn hẹp của phương Tây khi tiếp xúc với những nền văn hóa xa lạ. Điểm chính ở đây vẫn là về văn học Trung Quốc: từ thời kỳ Cách mạng văn hóa đến nay, Trung Quốc gần như đã bỏ lỡ hoàn toàn một khoảng thời gian rất dài và rất quý báu để đem văn học của mình ra ngoài phạm vi thế giới. Những nỗ lực trong thời kỳ trước đó và ngay cả khoảng thời gian gần đây cũng rất ít ỏi, và kết quả thì coi như chẳng đi đến đâu. Nó vẫn phải chịu cái nhìn – nửa xác đáng, nửa thành kiến – của bên ngoài, ngay cả từ Việt Nam, đất nước và dân tộc gần gũi và thông hiểu nhất, như một nền văn học của một đất nước chìm đắm trong đêm dài phong kiến, trải qua một giai đoạn lịch sử đảo lộn nhân tính, còn giờ đây đang trên con đường giàu xổi, khinh thị và kiêu căng. Người Trung Quốc có lẽ cần phải nghĩ ngợi nhiều về điểm này, thay vì tin tưởng quá đáng vào quyền năng mị quần chúng từ những khoản chi tiêu lớn như 40 tỷ dollars vừa bỏ ra cho Thế vận hội.

Xin dùng một chuyện ngoài lề để chấm dứt bài viết này: người viết, thường không theo dõi Thế vận hội kỹ lưỡng lắm, một hôm tình cờ mở ra đúng buổi tường thuật của NBC cuộc thi đấu chung kết giải bóng chuyền trên bãi cát (beach volleyball). Theo thường lệ tường thuật thể thao trong nội địa Mỹ quốc thì khi mà giữa giờ giải lao, hay trong một khoảng trống giữa hai diễn biến trên sân thi đấu, như khoảnh khắc các đấu thủ nghỉ tay chẳng hạn, người ta thường quay ống kính chiếu các cô gái cổ động viên mặc đồng phục (cheerleader) xinh đẹp ra nhảy múa, hay quay vòng quanh khán đài để lấy vài mặt khán giả. Còn ở đây, nhà quay phim đã tỏ lòng trung thành tuyệt đối với quốc gia bằng cách “không để cho khuôn mặt Tàu nào lọt vào ống kính của mình.” Trong giờ giải lao, mặc cho ai muốn làm gì thì làm, anh ta chỉ chăm chú bám sát không sót một cử động nào của hai cô đấu thủ Mỹ, mặc dù không lần nào họ làm gì thú vị hơn là ngồi uống một chai nước. Lương tâm tường thuật và sự nhiệt thành với thể thao nước nhà của nhóm truyền hình NBC còn thể hiện qua việc họ chiếu thật kỹ từng hình xăm trên mình cô đấu thủ ngôi sao – tôi còn nhớ tên cô là Misty May Treanor– và dẫn giải từng lý do bốc đồng đã khiến cô xăm lên mình hình này hình nọ.

Khi mà người ta đến tận Bắc kinh để tôn vinh người da trắng, có lẽ giữa loài người vẫn chưa có gì khá hơn cảnh “ai nói người nấy nghe” và những lý tưởng về Thế vận hội, hay là văn học, hay là gì gì khác… như nhịp cầu kết nối những thế giới xa lạ, đến nay vẫn còn khá là trống rỗng và xa vời…


[1] Xin nói thêm, vì các tác giả viết cho Talawas về đề tài cuốn sách này có cách viết không thống nhất với nhau; người thì “Tôtem sói”, người thì “Totem sói” hay “Tô-tem sói”, cho nên độc giả khi dùng Google để tìm bài có khi không thu thập được đủ số.

[2] Trích theo tờ Daily Telegraph, http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/asia/china/1501764/Best-seller-urges-Chinese-to-release-their-inner-wolf.html

[3] Như trên.

[4] http://www.iht.com/articles/2007/11/11/asia/prize.php

Bài đã đăng của Trần Thiện Huy

3 bình luận »

  • Phạm Lưu Vũ viết:

    Tác giả bài này không hiểu (hoặc đọc một cách quá sơ sài) bài viết của tôi. Vì vậy, cũng giống như các “nhà” văn hoá “chính thống” khác trong nước từng cố tình né tránh những nội dung tôi đã chỉ đích danh. Tôi không thích và không bao giờ tranh luận với những kiểu viết trung dung, nửa vời theo kiểu “thống kê” vô bổ như thế này.

    Phạm Lưu Vũ

  • Trần Thiện Huy (author) viết:

    Kính thưa ông Phạm Lưu Vũ, cùng quý độc giả,

    Trước sự phàn nàn của ông Phạm Lưu Vũ, tôi chỉ có thể nói rằng mình đã để link đến bài viết của ông ở trên, do đó, tôi nghĩ rằng tôi đã tham khảo bài viết của ông một cách minh bạch. Vì vậy, quý độc giả có thể tự rút tỉa ra kết luận của mình; tôi tôn trọng ý định của ông Phạm Lưu Vũ và sẽ không bình luận thêm gì về ý kiến của ông trong khi ông giữ im lặng.

  • Nguyen Minh Vuong viết:

    Cái nhìn “Như thị” về mọi sự trên thế gian, theo tôi nghĩ, chính là cái lý tưởng mà tác giả Trần Thiện Huy muốn xoáy vào. Nói cách khác, chỉ có cái nhìn của long lanh của trẻ thơ mới có thể khai quang, mở phơi Tính thể, Linh thể của sự vật hiện tượng và cụ thể là một tác phẩm văn học. Sự vật hiện tượng thế nào, hãy để nó như vậy, chớ có đem ý niệm ra để mà luận bàn. Mà nếu có bàn luận thì cũng là để mua vui, còn để mà chê bai hay khen khợi đều giết chết sự vật hay tác phẩm… Đi chệch khỏi con đường đó, con người, nhất là những kẻ mang danh trí thức, nhà phê bình sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn của ý niệm nhị nguyên. Điều này lại rất thường xảy ra đối với những ông tai to mặt lớn, cọp rằn văn nghệ đem cái lăng kính ý hệ kiêu căng tự phụ của kẻ tưởng mình là văn minh, văn hóa, hiện đại… mà so đo, cò kè, hút máu đầu xanh thơ dại của văn chương. Bao lâu cái nhìn còn dựa vào lý tưởng văn minh, tự do, hạnh phúc mà không lập cước trên cái Tâm sơ khai rỗng rang tự tại thì bấy lâu chúng ta con trong vòng nô lệ, vô minh và ngu dốt. Nếu ông Phạm Lưu Vũ nhận ra điều này, ông sẽ không hằn học cái kiểu viết “trung dung, nửa vời” của Trần Thiện Huy. Vì chỉ có kiểu viết mà ông vô tình phê bình tác giả Thiện Huy đó mới giúp người đọc vượt thoát con đường nhị nguyên đã gây hoang phế điêu linh cho nhân loại suốt dọc dài lịch sử.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Ban biên tập Trên Kệ Sách dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập trước khi phổ biến.