Trang chính » Bút ký, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Phỏng vấn, Trên Kệ Sách In bài này Email bài này

Hoàng Khởi Phong: Ngày N+ …

Hoàng Khởi Phong | 7.08.2008 0 bình luận |

Hoàng Khởi Phong: Trả Lời Phỏng Vấn của Nguyễn Mạnh Trinh

Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện

ngayN_cover LGT: Bài phỏng vấn nhà văn Hoàng Khởi Phong, của Nguyễn Mạnh Trinh gồm rất nhiều câu hỏi này, đã được thực hiện làm hai đợt vào năm 1989 và năm 1995. Giữa hai cuộc phỏng vấn đã sáu năm trôi qua, và tới nay thì đã hơn mười năm qua, nên có nhiều câu hỏi đã không còn phù hợp với thực tế. Tuy nhiên chúng tôi giữ lại những câu hỏi này, nó cho người đọc thấy những biến chuyển chung của thời cuộc, và biến chuyển riêng của mỗi nhà văn. Toàn bộ cuộc phỏng vấn này chưa hề được phổ biến, chỉ một phần rất nhỏ đã được trích đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, số 6 phát hành vào cuối năm 1989 với cái tựa ”Nhà Văn, nhiêu đó đủ rồi”. Sau cùng bài phỏng vấn này khi được công bố trên Da Mầu, cũng đã được bỏ bớt vài câu hỏi hay nhiều đoạn trong các câu hỏi

 

Nguyễn Mạnh Trinh: Anh Hoàng Khởi Phong, anh là ai? Nhà thơ? Nhà văn? Người thực hiện tuyển tập? Người hoạt động chính trị? Một người lính trong QLVNCH? Hay là tất cả?

Hoàng Khởi Phong: Không đợi tới khi anh hỏi, tôi đã từng tự vấn nhiều lần về tôi. Thời thơ ấu khi còn học tiểu học ở ngoài Bắc, tôi tự biết tôi là một học trò giỏi, của một ông thầy giáo già đúng cách lương sư. Mỗi sáng đi học, mỗi trưa đi học về, tôi đi theo cái bóng của thầy tôi. Tôi ôm chồng vở của lớp tôi về cho thầy chấm bài tại nhà. Do đó tôi bị bạn cùng lớp nghi kỵ, cho là tôi nịnh nọt thầy để được điểm cao. Chỉ tới khi đi thi Tiểu Học, tôi đậu rất cao tại hội đồng thi của tỉnh Quảng Yên mới gột được tiếng xấu này. Khi gột được nó thì quanh tôi không còn ai là bạn cũ, năm 54 đã nổ ra. Tuy nhiên nhờ vào đó tôi tập được tính tự chủ, cứ làm điều mình thích, không để ý đến những dị nghị bên ngoài. Khi tôi trở thành học sinh Trung Học Đệ Nhị Cấp của Trường Chu Văn An, tôi không còn là một học trò giỏi nữa, không những thế tôi còn là một học trò lười, phá phách, hư hỏng. Năm nào tôi cũng ra Hội Đồng Kỷ Luật, và giỗ kỵ nào của gia tộc tôi, tôi đều được mang ra làm một ví dụ xấu. Nhưng tôi biết chắc một điều tôi không phải là một người xấu. Tôi chỉ thích làm những điều gì người khác bị cấm đoán hay không dám làm. Năm 20 tuổi tôi tình cờ vào lính, cũng như năm 12 tuổi khi di cư, tình cờ ở Cô Nhi Viện một năm, trước khi về lại với gia đình.

Từ đó tới nay tôi ngã từ sự tình cờ này sang tình cờ khác. Tôi muốn làm một người lính tốt, tình cờ tôi nghĩ đến chuyện làm thơ, sang tới Mỹ rất ít khi được sống thực với điều mình nghĩ, cái hồn thơ không có đất sống, tôi quay sang viết văn cũng tình cờ như đôi lần dính dấp tới những hoạt động chính trị. Tôi làm một số tuyển tập cũng tình cờ như khi viết quyển sách Ngày N+….

Duy có một điều tôi là ai cũng được, tôi muốn làm một người tốt. Đây dứt khoát không phải là một điều tình cờ, mà là một chuỗi cố gắng dài. Tôi biết thêm một điều: Không một ai hoàn toàn tốt nên tôi càng cố gắng sống thành thực và bớt xấu đi. Theo tôi là ai không quan trọng. Cách là ai thế nào mới quan trọng.

NMT: Nhà thơ Mai Trung Tĩnh có viết về anh: “Thơ của anh có hiệu lực của những bản thông điệp gửi đến chúng ta” Vậy đối tượng của anh khi làm thơ là cái gì? Ai? Và mục đích gì?

HKP: Tôi làm thơ trước tiên là cho tôi, kế đó mới tới độc giả. Anh Mai Trung Tĩnh viết gì, đó là cảm nghĩ riêng của một nhà thơ đối với một nhà thơ khác. Nếu thơ văn phản ảnh lại đời sống, xã hội và thời đại mà ở đó nhà thơ, nhà văn đã sống thì khi viết tôi cố viết những điều liên quan chung đến mọi người. Như vậy đối tượng của tôi là bất cứ ai đọc tôi một cách… tình cờ (tôi rất ít viết báo) và cảm thấy rung động trước những điều tôi viết, thì đó chính là những độc giả của tôi, hơn thế nữa, một đồng hành của tôi bởi vì vấn đề của tôi cũng chính là vấn đề của họ. Về chữ ”Thông Điệp” anh Mai Trung Tĩnh đã dùng tôi cho là quá… thừa mà lại … thiếu. Nó thừa đối với những ai đọc xong rồi cau mày văng tục như cái ông đã cho tôi in nhờ tập thơ trên Pleiku, nhưng lại quá thiếu với những ai đồng ý. Phải có cái gì đằng sau những thông điệp này. Viết tới 1 triệu cái thông điệp thì cũng chỉ là những thông điệp mà thôi. Mục đích chính là đằng sau những thông điệp này. Lại nói về những điệp, thông điệp của những nhà chính trị khác với thông điệp của các nhà văn, nhà thơ. Thông điệp chính trị bao gồm những khẩu hiệu, và liền sau những khẩu hiệu là súng đạn, bạo lực và quyền lực. Thông điệp của những nhà văn, nhà thơ khác. Nó khởi đi bằng tấm lòng, nó được chuyên chở bằng văn chương. Thông điệp chính trị thường có những áp đặt, thông điệp văn chương kêu gọi sự thức tỉnh nơi mỗi con người.

NMT: Đối với chiến tranh Việt Nam, qua nhiều thời điểm từ 1970 cho tới nay 1989 hình như ở nơi anh có sự thay đổi cảm xúc cũng như suy nghĩ. Anh có thể giải thích cho độc giả rõ?

HKP: Không cứ gì với chiến tranh cảm xúc và suy nghĩ của con người mới thay đổi. Ngay chỉ với thời gian không mà thôi, dù chỉ là một khoảng thời gian ngắn cảm xúc và suy nghĩ của mọi con người cũng đã thay đổi, huống hồ từ 1970 cho tới 1989 là 20 năm đằng đẵng của một đời người. Tôi lấy một thí dụ cụ thể: Khi tôi còn trẻ đi lính xa nhà, cũng giống như những binh sĩ của tôi xa nhà.

Tất cả đều buồn bã, nhưng tôi không thể nào ngửi nổi những bản nhạc kiểu tâm lý chiến rẻ tiền như: ”Anh là lính đa tình, Kẻ ở miền xa, Tiền lính tính liền, Đám cưới nhà binh…” Nhưng binh sĩ của tôi thì khác, họ hát ỏm tỏi mỗi bài hát trong khoảng một hai tháng.

Tôi rất ghét những anh thợ hát trốn lính, nhưng khi đi hát thì lại hay mặc đồ dù, đồ bông, đồ bay, đồ…lặn. Lúc đó (năm 1970), tôi nghĩ mấy bài hát đó, mấy anh thợ hát nọ đã góp phần làm cho quần chúng ngộ nhận về quân đội. Tôi không nói là những cái này đã góp phần vào sự kiện có nhiều đào binh, vì khi thực sự vào lính, chạm mặt với sự thật mới biết đời lính không giống một chút nào với những bài hát, và mới biết thật sự đời lính như thế nào. Nói những anh thợ hát này có một chút nhỏ trách nhiệm trong việc đào ngũ, thì quả là đề cao mấy anh thợ hát này quá đỗi, nhưng thật sự những bài hát này có một chút nhỏ tác dụng, trong toàn bộ kế hoạch tâm lý chiến rất hời hợt của miền Nam.

Cứ thế dòng đời trôi đi, và đời người trôi đi trong cái dòng sền sệt này. Cho tới một hôm cách đây mười năm, tôi đang ngơ ngẩn trong một khu thương mại của người Việt Nam trên đất Mỹ, trong một dịp đi hội chợ Tết. Cũng vẫn những anh thợ hát đó, vẫn đồ dù, đồ bông, đồ bay, đồ…lặn đó, vẫn Kẻ ở miền xa (bây giờ thì xa tuốt mù khơi), vẫn những lời hát ngô nghê, ngớ ngẩn của nhiều năm trước. Tôi nhìn lại những bộ dạng, nhân dáng đáng ghét đó, và rồi tự nhiên tôi quặn đau trong lòng. Cả một trời xa đổ về, cả một thời cũ ùa tới. Tôi thấy thương thân mình, thương cả mấy anh thợ hát, cả những bài hát xưa kia đã nhiều lần làm tôi lộn tiết. Thành thử tôi muốn bổ túc cho câu hỏi của anh: Cảm xúc và suy nghĩ thay đổi không phải do chiến tranh không mà thôi. Nó thay đổi theo cả thời gian, không gian và cả hoàn cảnh.

NMT: Anh làm thơ phản chiến hồi đó có phải vì bốc đồng tuổi trẻ? Vì thích chống đối để tỏ ra mình tiến bộ? Hoặc vì nhận thức được vài trò tốt thí trong chiến tranh ủy nhiệm? Hay là do tất cả những nguyên nhân trên?

HKP: Trước tiên tôi thấy anh sử dụng chữ ”Phản Chiến” với tôi sai. Tôi nghĩ rằng tôi dứt khoát là người không ”Hiếu Chiến” nhưng chắc như đinh đóng cột tôi không bao giờ phản chiến. Điều quan trọng là trận chiến và tính chất của trận chiến. Tôi thèm làm lính của vua… Quang Trung, tôi thèm làm lính của ông… Đề Thám. Những cái thèm khát này cứ cho là giả đi, vì không thể thực hiện được. Tôi tiếc là tôi quá trẻ, để không có thể làm một chiến sĩ có mặt tại Chapa, những người đánh trận Sông Lô, hay những người lính có mặt trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Nói tóm lại đó là những trận chiến chống ngoại xâm (vấn đề Quốc, Cộng là một chuyện khác đến sau). Tôi rất mê thơ Quang Dũng: “…Rải rác biên cương mồ viễn xứ – Chiến trường đi chẳng hẹn ngày xanh…” Tôi mê hình ảnh này thật sự chứ không hề làm dáng. Vậy thì tôi phản chiến ở chỗ nào?

NMT: Anh có thể kể những đụng chạm với chiến tranh, với chết chóc trong đời sống hậu cứ của anh? Và liên cảm nào, từ bạn bè, từ đồng đội hay những kẻ thù, để viết những bài thơ trong những tập thơ kể trên?

HKP: Trong đời binh nghiệp của tôi dài gần 13 năm, tôi có mặt ở đủ bốn vùng chiến thuật. Chi tiết hơn nữa thì tôi làm việc ở 15 tỉnh, một hải đảo. Có nhiều chỗ tôi đổi tới làm việc ba lần như Pleiku năm 65 ở hai tháng, năm 70 trở lại làm việc được một năm và năm 75 quay trở lại, làm việc chưa đầy hai tháng thì xẩy ra vụ triệt thoái Liên Tỉnh Lộ 7B. Biên Hòa tôi cũng làm việc hai kỳ vào năm 64 và năm 69. Vũng Tầu 2 dạo, kỳ đầu thụ huấn 4 tháng trời, khi quay trở lại làm huấn luyện viên được 8 tháng. Phần lớn những thuyên chuyển của tôi đều là bị phạt, có khi vì vô kỷ luật thật, khi thì không chịu làm một cái bánh xe trong một guồng máy.

Tôi là lính chuyên môn. Khôi hài hơn một chút, tôi lấy hình ảnh của một người tiểu ẩn là ẩn mình trong thâm sơn cùng cốc, kẻ trung ẩn náu mình nơi chợ búa, phố phường và kẻ đại ẩn nương mình trong chốn triều đình. Mượn hình ảnh đó thì tôi là kẻ… đại trốn lính, chuyên bắt những người khác đi lính. Nếu tôi nói tôi đánh giặc ghê gớm lắm thì các ông: Cao Xuân Huy (TQLC), Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Khánh Trường (ND), Nguyễn Ý Thuần (BĐQ) sẽ cười. Nhưng quả thật trước 75, nếu phải gần kẻ thù Cộng Sản thì các ông vừa kể không một ông nào theo kịp tôi. Tôi có tới 6 năm phục vụ trong các trại tù binh. Do sự gần gũi với họ, tôi có dịp quan sát người lính của cả hai phía.

Những binh sĩ của tôi tại các trại tù binh Phú Quốc, Biên Hòa, Qui Nhơn làm cho tôi mơ hồ nghĩ tới cái kết quả của ngày hôm nay. Quân Đội miền Nam, mỗi lúc mỗi mất đi cái thuần chất chuyên nghiệp, và bị chính trị thẩm thấu càng ngày càng đậm. Ngoài ra tệ trạng bè phái, tham nhũng cũng làm cho quân đội càng lúc càng giống như một con bệnh bị suy nhược. Còn những kẻ trong hàng rào, họ không phải chỉ được chúng ta vẽ lại nét ngu ngốc kiểu: ”cái nồi ngồi trên cái cốc” hay nói ngọng ”nàm nụng, nếu náo, lói mò..” Giờ này chúng ta giễu họ mà không biết chúng ta là ai? Đang làm gì? Đang ở đâu? Vì sao ra nông nỗi này thì cay đắng quá.

Đằng sau cái ngu dốt bề ngoài đó, họ là một khối vững chắc, họ là những cái máy người. Gật và lắc đầu do sự ưng thuận hay không của một vài người. Họ cũng có những âu lo riêng tư như chúng ta, nhưng phản ứng trước một sự kiện thì đồng bộ. Đây không phải là sự đoàn kết, mà là sự sợ hãi, áp bức muôn người như một. Tôi xót xa cho họ, tôi đau buồn cho tôi và những người lính của tôi. Tôi hồi hộp chờ đợi một điều tồi tệ, nhưng tôi không bao giờ nghĩ được điều tồi tệ đó lớn đến độ kinh hoàng như năm 75. Chính vì vậy mà trong giai đoạn từ 1965 cho tới 1975, những hình ảnh u buồn của chiến tranh mà tôi đã có dịp chứng kiến, tại khắp 4 Quân Khu, đã tác động lên tâm hồn tôi, khiến tôi làm thơ nhiều hơn là viết văn. Những bài thơ tôi viết, tôi chống cả hai phía, đặc biệt là những người lãnh đạo của cả hai miền Nam và Bắc.

Tôi không đồng ý chữ phản chiến anh và nhiều người khác gán cho tôi. Tôi không phải là một người hùng mũ đỏ mũ xanh, nhưng dứt khoát tôi không hèn. Tôi không phải là một sĩ quan gương mẫu, nhưng tôi cũng không phải là một sĩ quan nhu nhược, nhắm mắt nghe lệnh thượng cấp. Tôi là một người lính, có cơ hội suy nghĩ về tôi, về đồng đội, về địch quân. Tôi cố gắng chống trả trong hiện tại và mơ ước trong tương lai, chúng ta có những người chỉ huy đúng nghĩa, có tài có đức. Nếu chúng ta đứng vững được thêm 10 năm nữa, tôi nghĩ là có thể chúng ta không ngồi tại chỗ chúng ta đang ngồi ngày hôm nay, mà có thể những người phải lưu vong là những người lãnh đạo, chỉ huy của miền Bắc, và chỗ của họ tị nạn có thể là Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, Tây Bá Lợi Á, Hung, Tiệp, Ba Lan… Và nếu chúng ta không đuổi được họ ra khỏi Bắc Việt (Lịch sử cận đại chưa hề ghi nhận được một trường hợp nào mà lực lượng dân tộc đuổi được Cộng Sản ra khỏi một vùng đất đã bị nhuộm đỏ, ngoại trừ A Phú Hãn là một ngoại lệ vì lý do tôn giáo, chứ không phải dân tộc). Cho dù không Bắc tiến được, thì chúng ta cũng không đến nỗi ngồi đây, lái xe hơi tốt, mặc quần áo đẹp xong rồi cười sằng sặc về vụ ”cái nồi ngồi trên cái cốc”. Cứ tạm công nhận là cá nhân của những người Cộng Sản ngu ngốc đi, thế mà chúng ta ngồi đây, giả dụ họ thông minh… bằng chúng ta, thì có lẽ giờ này chúng ta đang ngồi trên cung trăng, chuyện vãn cùng chị Hằng và chú Cuội.

NMT: Anh nghĩ gì về thơ văn có “lửa”. Ngọn lửa ấy do môi trường bên ngoài hay do những thúc đẩy nội tâm bên trong tạo ra? Nói một cách thành thật và rất chủ quan, thơ văn anh có “lửa” hay không?

HKP: Theo tôi ngọn lửa đó phải do những thúc đẩy nội tâm mà có. Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ, cha tôi vắng nhà. Trong những câu chuyện của người lớn, của các anh chị tôi, tôi biết cha tôi đang ở đâu đó trong vùng rừng núi Việt Bắc. Tôi mê bài hát ”Đàn Chim Việt” của Văn Cao vì câu: ”…Nhớ ai trên núi đồi Yên Thế, rừng Thái Nguyên kia, sông Gấm còn mịt mùng…” Qua những lời hát này, tôi tưởng tượng ra cha tôi, nơi ông ở và điều ông làm. Tôi ghét không phải chỉ người Pháp, bởi vì trong đầu của một đứa trẻ 10 tuổi, tôi chưa phân biệt được Pháp, Đức, Ý, Anh… Tôi ghét da trắng, tóc vàng, mắt xanh, mũi lõ. Do đó khi làm thơ lúc đã trưởng thành, đề cập tới những người Mỹ tham chiến tại Việt Nam tôi đã viết:

”…Ôi những con cú mắt mèo

Và bầy quạ có lông vàng óng ả

Đang bay lượn trên đầu chúng ta

Làm tinh thần phá sản

Cho bọn cáo cầy nịnh hót phô trương…”

Cũng trong đầu óc thơ ngây của một đứa trẻ, tôi ghét bọn Tây Lai, và không thể không ghét những người đã tạo ra những đứa trẻ hai dòng máu. Cho tới bây giờ tôi chưa bao giờ đi nhẩy đầm (có hai lần vì nể bạn bè vào vũ trường nghe nhạc), chỉ vì ngày còn niên thiếu, tôi thấy mấy cô vũ nữ trong tiệm nhẩy duy nhất của tỉnh Hải Dương, mỗi tối đú đởn với lính Pháp, Lê Dương, Tây Đen rạch mặt… và người trong phố tôi, không một ai không dè bỉu. Bây giờ tôi hiểu biết hơn, tôi không còn ghét những người mang hai dòng máu, tôi không còn ghét nhẩy đầm, nhưng tôi vẫn không thể thích. Một cách thành thật, khiêm tốn và rất… chủ quan, tôi xác nhận thơ văn của tôi có ”Lửa”. Nhưng có một điều anh cần biết, ngọn lửa đó hiện nay không có cơ hội phát tiết ra ngoài, nên nó đốt bên trong tôi âm ỉ. Nó làm tôi nhiều lúc muốn điên, nó hành tôi bã người, nó làm tôi tê dại đi. Bây giờ tôi thèm biết bao một suối mát ở quê nhà. Vả lại văn chương không nhất thiết là phải có lửa, song tập quán suy nghĩ của tôi không đổi được, nó đã ăn sâu vào trong não tủy. Ở vào tuổi 50, các cụ ngày trước gọi là ”tri thiên mệnh”, mấy ai có thể thay đổi chính mình?

NMT: Có “lửa” và có “lòng”, hai chữ ấy có nghĩa gần nhau không? Nếu viết vì những lý do nào khác, phục vụ cho những mục tiêu khác, có thành văn chương được không? Theo anh?

HKP: Có lửa và có lòng, hai chữ ấy theo tôi là hai mặt của một loại văn chương mà tôi tạm gọi là ”dòng ngược”. Bởi vì ”dòng xuôi”, theo cách nhìn khá chủ quan của riêng tôi mang nhiều tính uỷ mị, lãng mạn và chấp nhận. Trong khi đó dòng ngược mà tôi là một trong những người đang vùng vẫy, trong cái dòng ngược này chất chứa những tiếng gào thét, phản kháng, phẫn nộ và sôi nổi do những bất công, những sai lầm, những ác độc của xã hội tôi đang sống. Lửa và lòng chúng ta đang nói đây, chắc chắn không phải là loại ”Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan, cho dù là một Nguyễn Công Hoan của nửa thế kỷ trước, không phải một Nguyễn Công Hoan, nhà văn giáo điều của Cộng Sản sau này.

Loại văn chương có lửa này, nếu viết dở thì thưa anh nó là một loại văn chương truyền đơn, khẩu hiệu. Mà đã là truyền đơn, khẩu hiệu thì nó là cái gì đó… chưa phải là văn chương. Còn viết hay thì không nhất thiết phải có lửa. Docteur Jivago của Boris Pasternak là một ví dụ. Đây là một tác phẩm lãng mạn, u hoài, đầy chất thơ nhưng nó cũng chống Cộng kinh hoàng. Thơ khẩu hiệu thì 10 phần hết 8 giống như vè. Loại vè này từ năm 54 đến năm 75 nhiều vô số kể tại tại hai miền Nam và Bắc Việt Nam.

NMT: Người ta nói nhiều đến phản chiến trong văn chương, nhưng có nhiều loại phản chiến. Như phản chiến nhân danh con người, hay phản chiến thiên Cộng. Bây giờ, nhìn lại thời kỳ văn chương trước, anh có nhận xét gì về những điều đề cập ở trên?

HKP: Trước tiên tôi không thích chữ phản chiến và cũng không hào hứng nói chuyện ”văn chương phản chiến”. Lấy ví dụ nhạc của Trịnh Công Sơn chẳng hạn, cái mà chúng ta gọi là phản chiến trong nhạc của anh, có rất nhiều tính nhân bản. Nhạc của Trịnh Công Sơn nói lên niềm tha thiết của con người với hòa bình, nó cũng nói lên thân phận bèo bọt của con người trong thời chiến. Mà đã là con người thì ở đâu cũng vậy, ai ai cũng thích một đời sống yên ổn, không chết chóc. Như vậy nếu nhạc của Trịnh Công Sơn giả dụ có làm hao hụt tinh thần chiến đấu của chúng ta trong miền Nam như thế nào, thì nó cũng làm hao hụt tinh thần chiến đấu của quân đội Bắc Việt y như vậy.

Vấn đề là miền Nam chúng ta đã không vận dụng đúng mức cái chất nhạc u uất này, đẩy mạnh sang bên kia bờ Bến Hải, trải nó ra giống như những tờ truyền đơn trên đường mòn Hồ Chí Minh. Chẳng những thế, chúng ta còn đẩy Trịnh Công Sơn mỗi ngày mỗi xa chúng ta, nên tôi không lấy làm lạ khi năm 1975 anh ta ”hân hoan ngã về phía những người thắng trận”. Văn chương, cũng như âm nhạc phải phản ảnh được cái thời của nó, ngoài ra còn tùy cảm quan của mỗi người viết. Chúng ta có hàng ngàn cây bút chống Cộng, nhưng có lẽ những tác phẩm chống Cộng của chúng ta chưa tới, chưa đủ hay nên chưa tạo được ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Có một dạo các nhà văn chê bai những tác phẩm chống Cộng, ít ai chịu viết về những đề tài này, bởi vì các nhà văn của miền Nam chọn các đề tài viết làm sao cho sách bán chạy, nhằm phục vụ cho thị hiếu của độc giả. Rất ít người chịu viết về những vấn đề sinh tử của đất nước. Cả một rừng sách, truyện thử hỏi có bao nhiêu cuốn vẫn chống Cộng, rất văn chương mà vẫn hay. Cứ viết cho thật hay đã rồi mới nói tới ảnh hưởng của tác phẩm được. Phản chiến hay không, tôi cho là do cảm nhận của mỗi độc giả, nhưng không thể dùng số đông mà áp đặt điều này, điều khác lên một số nhà văn, nhà thơ được.

NMT: Bây giờ anh có rất nhiều hoạt động văn chương. Nguyên do nào thúc đẩy anh có những sinh động như thế sau một thời gian trì trệ?

HKP: Câu chuyện tôi viết lại có nhiều nguyên nhân. Mười năm không viết từ 1978 cho tới 1988. Có mắt cũng không muốn trông, có tai không muốn nghe. Muốn hay không muốn mọi việc vẫn đập vào mắt, vẫn phang vào tai. Ngọn ”lửa” bên trong thì mỗi ngày mỗi âm ỉ. Nếu không cầm bút viết lại, một ngày kia trông mặt mình trong gương soi e mình không nhận ra chính mình. Mình mà không nhận ra chính mình thì làm sao người nhận ra mình? Vả lại khi ta cố quên một người nào, một điều gì thì ta đã sai ngay từ chữ cố rồi. Ta càng cố quên bao nhiêu, thì có nghĩa là điều đó mạnh, và chi phối ta bấy nhiêu. Tôi cố quên tôi trong mười năm liền, khi thì đánh mạt chược mỗi cuối tuần. Đánh bài liền trong vài năm như vậy, một hôm nhận ra mình không ra một thể thống gì, tôi bỏ đánh bài. Tôi đi cắm trại, sang Mễ chơi mỗi khi có kỳ nghỉ cuối tuần nhiều ngày. Đi Mễ hai năm liền, thấy Mễ có nghèo đói, nhưng không phải là chốn cũ tôi muốn tìm. Tôi mở quán cà phê Hải Âu, rốt cuộc cái quán đó cho tôi biết thế nào là người bạn chân chính, và thế nào là người bạn giả hiệu vì lợi nhuận.

Chính nơi đây tôi thấy được giá trị của đồng bạc với mỗi hạng người. Chính nơi đây tôi thấy những người chân thật và những người giả dối, những người giả hình và những người ngụy tín. Và cũng chính nơi đây tôi tự biết được một điều: Hoặc là tôi thôi không suy nghĩ, không viết lại để làm một người thương lái chính hiệu, có thể sẽ có nhà đẹp, xe tốt và nhiều thứ khác. Nếu tôi vẫn muốn suy nghĩ, thao thức mà không làm gì cả cho những suy nghĩ và thao thức của chính mình, thì tôi cũng chỉ là một tên ngụy tín, giả hình và dối trá. Làm một tên ngụy tín, giả hình trong mười năm đã quá đủ. Do đó tôi quay lại với cây bút của tôi

Nguyên nhân thứ hai, ông cụ tôi mất vào năm 1985, ba năm sau mẹ tôi theo chân ông cụ. Tôi không có cơ hội nhìn lại song thân tôi một lần nào kể từ năm 1975. Tôi là một đứa con bất hiếu, khi nhỏ dại gần cha mẹ, tôi là một mối bận tâm lớn cho cha tôi, là một phiền não cho mẹ tôi. Khi tạm đủ lông đủ cánh, thì đời mở ra nhiều ngả, ngả nào cũng bắt mắt, ngà nào cũng có những lôi cuốn, dục giã. Tôi xa nhà từ năm 18 tuổi, lêu lổng đến năm 25 tuổi mới về nhà. Tưởng làm vương làm tướng gì? Té ra cũng chỉ làm đến quan hai, quan ba cũng chỉ đến lót đường cho người. Tháng Tư năm 1975, cha tôi dạy tôi phải trốn, bất kỳ là đi đâu, và phải học. Trốn thì đã xong, còn học thì sau rốt cũng được nghề thợ tiện. Bây giờ tôi viết lại, chẳng qua cũng chỉ là một cách báo hiếu quá muộn màng mà thôi.

NMT: Khi anh cầm bút, anh có nghĩ mình vẫn là người lính của QLVNCH? Dù ở quê nhà thập niên 1960, 1970 hay ở xứ người 1975, 1989?

HKP: Khi tôi cầm bút, tôi nghĩ tới những ”nhà văn” đúng nghĩa. Khi tôi cầm súng, tôi nghĩ tới những ”người lính” chính hiệu. Tôi cho là tư cách ”nhà văn” nó bao gồm mọi tư cách khác của cá nhân tôi. Nếu những nhà văn có thời đi lính được gọi là ”nhà văn Quân Đội”, thì giả dụ có một nhà văn sau năm 75 phải đi đạp xích lô kiếm sống, và hơn thế nữa tác phẩm của ông ta viết về giới xích lô, ba gác, vác thuê, gánh mướn ta có gọi nhà văn đó là ”nhà văn Xích Lô” không?. Rồi một người nào đó trước kia ở Việt Nam là Cảnh Sát, ta có gọi ông ta là ”nhà văn Cảnh Sát” không? Bây giờ tôi làm thợ tiện, anh có gọi tôi là ”nhà văn Thợ Tiện” không?

Nhà văn, nhiêu đó đủ rồi. Tôi có một thời gian đi lính, nên tôi hay viết về đời lính của tôi, vì đó là thời khoảng đáng nhớ nhất trong đời tôi. ”Ở Lính” tới 13 năm, thì phải có một phần nào chất lính nhập vào cốt, nhưng không phải vì thế mà bây giờ tôi vẫn tự coi mình là một quân nhân. Tôi là một cựu quân nhân QLVNCH, cái này không có gì lợn cợn. Nhưng nói tôi đang còn là một quân nhân QLVNCH, thì không…sai nhưng dứt khoát không đúng, nó có một cái gì đó không chính danh. Nếu chỉ nghĩ mình còn là một quân nhân tuy có vẻ ”sai”, nhưng còn có thể chấp nhận được. Giờ này vẫn muốn mọi người khác phải công nhận mình là lính, vẫn là cấp Tá, cấp Tướng, vẫn muốn được gọi bằng cấp bậc cũ thì không thể chấp nhận được. Còn một điều khác nữa cần xét tới: Khi còn là Tướng, là Tá anh có làm đủ bổn phận và trách nhiệm mình không? Cái mũ casquette của sĩ quan có một cái khiên, trong cái khiên này tôi nhớ ngay chính giữa là phù hiệu của QLVNCH, bên trên có một hàng chữ: TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM. Đó là ba tín niệm một sĩ quan phải đội trên đầu. Khi còn tại chức, anh đội lên đầu mấy chữ đó hay anh ngồi lên mấy chữ đó?

NMT: Viết về những ngày tàn của cuộc chiến Việt Nam, qua “Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng”, “Ngày N+…” và “Cây Tùng Trước Bão”, anh có mục đích gì? Vì dằn vặt của ký ức? Hay muốn từ những sự kiện

ấy, để hướng tầm nhìn và dự phóng tương lai dân tộc Việt Nam (Không hiểu câu hỏi này có to tát và ngoại hàm không)?

HKP: Về câu hỏi này tôi nghĩ nhà văn Cao Xuân Huy đã trả lời tương đối đầy đủ. Dẫu anh Cao Xuân Huy có phủ nhận tư cách nhà văn, cách phủ nhận rất mạnh. Nhưng tôi cho ”nhà văn”, tự mình nhận hay không chỉ có một giá trị tương đối. Câu hỏi dành cho tôi, dường như lớn hơn câu anh đã hỏi anh Cao Xuân Huy, do đó tôi bổ túc thêm:

Tôi là một nhà văn sống vào thời khoảng có những thay đổi lớn của lịch sử, trong góc độ tầm nhìn hạn hẹp của tôi, tôi thuật lại những thay đổi này. Mục đích chính của tôi không lớn như anh đặt trong câu hỏi. Nó khiêm tốn hơn, tôi mong cống hiến cho những thế hệ sau tôi một phần nhỏ của SỰ THẬT, những nhà văn khác cống hiến những phần của họ. Đặc biệt những nhà văn chân chính ở phía bên kia (Phía Cộng Sản có nhiều loại nhà văn, kể cả Công An và Chính Ủy), cũng sẽ cống hiến những phần SỰ THẬT khác, do góc độ, vị trí của họ đối với lịch sử, khác với vị trí của những nhà văn sinh trưởng tại miền Nam. Khi thế hệ chúng ta nằm xuống, qua sách vở chúng ta để lại, những thế hệ sau có cơ hội ráp nối những phần nhỏ SỰ THẬT này, để có một SỰ THẬT trọn vẹn, của một giai đoạn lịch sử. Họ sẽ thấy những phần nào ĐÚNG, phần nào SAI, họ sẽ có những dữ kiện tốt, để chu toàn bổn phận của họ đối với giai đoạn lịch sử của họ.

NMT: Viết với anh có phải là một nhu cầu cần thiết? Hay chỉ là một việc làm cợt đùa cho qua ngày ở xứ người?

HKP: Thú thật với anh, chính tôi tôi cũng không biết rõ điều này. Có lúc tôi cảm thấy tôi đáng bị ”bỏ” vào thùng cất kỹ, do đó trong vòng mười năm liền tôi không viết một chữ nào. Cách đây mấy tháng trong số Xuân Văn Học năm Kỷ Tỵ (1989), trả lời cuộc phỏng vấn chung của anh, tôi có nói tới thời gian làm nhà xuất bản Bố Cái, tôi nhìn thấy sách của tôi bị bầy bán tại những cái kệ trong các chợ thực phẩm Việt Nam. Nó được bầy bán bên cạnh mắm tôm, nước mắm. Có thể với một số người nào đó, văn chương của tôi làm cho mắm thêm nặng mùi. Cho dù có như thế thật tôi cũng xấu hổ và thu sách về, vì văn chương tôi có dở, tôi cũng không nỡ nhìn thấy nó nằm đó. Cái đó có thể là sĩ khí, và cũng có thể là sĩ diện hão.

Dường như tại nơi đây, có nhiều người khéo làm ăn, tài xoay trở, kiếm được rất nhiều tiền, và dùng tiền để mua một cái danh hão. Danh hão nào dễ mua cho bằng ”nhà văn, nhà thơ”. Viết xem chừng cũng dễ, có tiền in sách ra, mời bạn bè đến ra mắt, có ăn, có dạ vũ, khéo khích động thì lại thu vốn về ngay trong lần ra mắt. Sau khi đã ra mắt sách, có dạ vũ, có phóng sự bằng hình đăng báo, hàng vài chục tấm hình chi chít mấy trang báo, ai nấy đều ăn

mặc như tài tử xi nê. Kế đó lại được vài nhà văn ”cổ thụ” chuyên về khen, viết bài tường thuật như thế là thành nhà văn, nhà thơ. Nhiều cuốn sách viết hàng trăm trang đầy chữ, nhưng ít nghĩa. Tôi đã thấy một cuốn sách hơn hai trăm trang, có tới 40 người viết lời khen ngay trong cuốn sách, được các nhà văn lớn, nhỏ ấn chứng văn tài, ví với Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan…ai ai cũng được chụp hình bên cạnh lời khen của mình, thành thử cuốn sách giống như một album, sưu tập hình ảnh nhiều hơn là một tác phẩm văn chương. Có những lời khen thật, những lời khen không thật và những lời khen xã giao (vì ngượng, cũng được tác giả mang tuốt vào sách). Cái này xem ra mới thật là nặng mùi hơn mắm tôm.

Đó là lý do có một thời gian tôi thấy mình không nên léo hánh tới chữ nghĩa. Tôi không bao giờ có ý định bỡn cợt với chữ nghĩa, nhưng tôi cũng không cho việc viết là một nhu cầu tối cần thiết. Điều quan trọng là mình viết cái gì, và quan trọng hơn nữa là phải viết cho tới, cũng như phải giữ được cái liêm sỉ tối thiểu của người cầm bút. Cái liêm sỉ tối thiểu này hạn hẹp trong việc cầm bút mà thôi. Tôi không đòi hỏi nhà văn phải là một nhà đạo đức, nhưng tôi đòi hỏi nhà văn không thể vì một mối lợi mà bẻ quẹo ngòi bút của mình, càng không thể vì phe nhóm, mà chụp mũ người này, ca tụng người khác.

NMT: ”Ngày N+…” có phải là một hồi ký? Như vậy có phần nào hư cấu hiện diện ở trong không? Hay tất cả những chi tiết đều là 100% sự thật?

HKP: Ngày N+… là một cuốn hồi ký. Trên bìa của nó đề vậy thì chắc là vậy, không có gì hư cấu trong cuốn sách này. Sự thật mà nói: Nếu tôi tưởng tượng được những điều đó và sắp xếp cho nó thành ra quyển truyện thì có lẽ ”Bảnh” hơn là tôi chứng kiến rồi ghi lại thành hồiký. Về sự thật 100%, cái này tùy thuộc đến trí nhớ. Tôi biết trí nhớ của tôi rất tốt, khiêm tốn thì tôi nhớ được 80%, cái 20% còn lại có thể là sai, nhớ lộn thì cũng không phải là hư cấu, mà là lầm lẫn bởi vì câu chuyện đã qua 13 năm. Trong trường hợp tái bản, tôi sẽ sửa lại vài chi tiết sai về tên người, cũng như sự kiện. Hiện nay tôi biết đã lầm nhiều chi tiết, mà trong đó có một chi tiết liên hệ đến người em họ tôi là Đại Úy Đàm Quang Thức, Nhẩy Dù. Anh ta không chết trong trận đánh đoạn hậu cho Lữ Đoàn Dù ở Khánh Dương, bị đi tù cải tạo nhiều năm và đã về nhà.

NMT: Có người nói trong “Ngày N+…” có sự lãng mạn của những bài thơ. Vậy chất thơ ấy có phải là hư cấu? Hay chỉ là cốt lõi ngôn ngữ Hoàng Khởi Phong? Theo anh, trường hợp nào xác thực nhất?

HKP: Xin nhắc lại là không hề có hư cấu trong cuốn sách này. Về cốt lõi ngôn ngữ của tôi (chữ của anh dùng trong câu hỏi), tôi muốn dùng một chữ khác: Đó là rung cảm của mỗi người, trước mỗi sự kiện. Cũng chỉ là cảnh mặt trời lặn, có người thấy nó thê lương, có người thấy nó huy hoàng, dẫu cho chỉ huy hoàng một khoảnh khắc, và cũng có người chẳng thấy một chút ấn tượng nào.

Trong cảnh hỗn loạn cùng cực của một cuộc rút lui, nếu tôi viết lại ngay lúc đó, tôi cho là sẽ có nhiều hình ảnh khác, sẽ có nhiều súng nổ, đạn bay, người chết như ngã rạ. Mười năm sau, những cái còn lại trong đầu, chính là những hình ảnh mạnh mẽ nhất, sắc nét nhất và lắng đọng nhất. Nếu nó lãng mạn như một bài thơ, thì điều đó có nghĩa là ngay cả trong đời sống, trong chiến tranh, trong cõi chết vẫn có chất lãng mạn, chất thơ của nó. Tôi không cho đó là cốt lõi ngôn ngữ của tôi. Mỗi người cầm bút có một kỹ thuật riêng, thành thử những gì anh cho là cốt lõi đó tôi nghĩ chỉ là kỹ thuật tôi thường dung nhất trong khi viết.

NMT: Một đoạn trong “Ngày N+…” anh viết về những em Thiếu Sinh Quân ở Pleiku, trong ngày di tản, hoặc các em Hướng Đạo Sinh dắt dìu nhau ở Liên Tỉnh Lộ 7B, những đoạn ấy rất cảm động. Từ những trường hợp ấy, anh nghĩ gì đến những đứa trẻ trong đời sống hôm nay? Và liên tưởng nào khác xa hơn những cảnh anh đã chứng kiến?

HKP: Đối với tất cả các quốc gia nói riêng và nhân loại nói chung, thì tuổi thơ chính là tương lai. Nghĩ tới tương lai đất nước mà không nghĩ tới tuổi thơ là một sai lầm lớn. Tuổi thơ của anh, của tôi và hiện nay của các trẻ em Việt Nam quả thật là bất hạnh hơn tuổi thơ của các xứ sở thanh bình. Tôi nhớ lúc nhỏ khoảng 6, 7 tuổi, gia đình tôi chạy loạn, tôi chưa biết sợ bom đạn, nhưng đôi chân bé bỏng của tôi đã chẩy máu rất nhiều lần. Sau cùng cha tôi ở lại vùng kháng chiến, mẹ tôi mang anh em tôi về thị xã Hải Dương. Khi về tới Hải Dương tôi đã học lớp Nhì, nghĩa là tôi có 3, 4 năm vừa học vừa chạy loạn.

Khi về thành ngày nào đi học tôi cũng qua một tiệm bán đồ chơi trẻ em. Ngày nào tôi cũng dán mũi vào cửa kính của tiệm đồ chơi này. Tôi mê một con chuột chạy bằng dây cót, nó có một cái chìa khóa to tổ bố trên lưng, hai con mắt làm bằng hạt cườm lồi ra, những sợi râu cứng và thưa làm bằng lông đuôi con ngựa. Tôi thèm món đồ chơi này, đến độ nằm ngủ mê cũng còn thấy cái dáng lạch bạch của nó chạy lắng quắng trên mặt bàn. Sau này tôi chưa hề từ chối các con tôi một món đồ chơi nào, nếu trong túi tôi có đủ khả năng.

Tôi mê nghề dậy học, ở Ban Mê Thuột và Pleiku, tôi cố dàn xếp giờ giấc để dậy một tuần vài giờ cho các Trường Trung Học Bán Công và tư thục. Tôi chưa bao giờ được tiêu hết tiền dậy học của tôi, bởi vì tháng nào trong sân trường cũng có những vành khăn tang mới. Mỗi một lần như thế, tôi lại đóng học phí cho các em này vài tháng. Tôi lập trường tiểu học Vườn Hồng ở Phú Quốc, vì không muốn con em của các binh sĩ trong đơn vị không đi học. Giặc dốt nguy hiểm hơn bất cứ một thứ giặc nào. Tôi gặp nhiều bất ưng trong quân ngũ, do đó ở đâu tôi cũng tìm những thú vui với trẻ thơ, dẫn các em đi trại trong rừng, trên núi, lội suối, chèo thuyền, hát hò, thơ phú… Trẻ thơ có một năng khiếu kỳ dị về người lớn. Người nào yêu trẻ thơ, chúng biết ngay lập tức. Gần gũi tuổi thơ là một nguồn suối mát. Phải chi tôi là một nhà văn viết cho tuổi thơ thì có lẽ tôi thích hơn là viết cho người lớn đọc. Tôi có một bài thơ viết với lời đề tặng: ”Cho con của bố, chưa hề có mặt, chưa hề đặt tên”, bởi vì lúc đó tôi chưa lập gia đình, trong bài thơ này có một đoạn:

”… Bố mong con có một thời hoa mộng hoàn toàn

Khác với bố, quen súng đạn, chết chóc thê lương

Ngay từ hồi tóc còn để chỏm…”

Một đoạn khác trong bài thơ này tôi viết:

”…Hãy làm lại cho chính chúng ta

Những gì thế hệ trước mưu toan mà thất bại

Hãy tận tụy làm cho con cái chúng ta

Những gì anh và tôi chưa từng thừa hường…”

Trở về những thế hệ trẻ thơ Việt Nam, hơn một thế kỷ liền các thế hệ trẻ thơ của nước ta đã quen thuộc với chiến tranh, đến độ nhìn súng đạn như là những đồ vật quen thuộc trong nhà, từ thời thơ ấu. Đến khi khôn lớn người ta nhét vào trong tay một khẩu súng, thì không thấy khẩu súng là một vật bất tường. Kiểm điểm lại trong thế kỷ 20 này người Việt tham dự bao nhiêu chiến tranh? Nào là chống Pháp, chống Mỹ, rồi chống lẫn nhau, kế đó là đánh Tầu, Cao Miên. Ấy là chưa kể có một trận đánh ít người nhớ là chống Liên Quân Anh, Ấn khi đoàn quân này vào giải giới từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, và có một thời gian chống Nhật. Thử hỏi trong thế kỷ 20 này, có trẻ thơ nước nào như trẻ thơ nước Việt hay không?

Biết đến bao giờ, con em của chúng ta thôi không còn nghe những tiếng nổ hãi hùng trong đêm tối? Biết bao giờ những danh từ ”quân dịch, nghĩa vụ” mới biến mất, trong những câu chuyện hàng ngày của các bậc cha mẹ Việt Nam, và thôi không còn ám ảnh tuổi trẻ Việt Nam? Ngày đó dẫu cho tôi có già 70 tuổi, tôi cũng sẽ vui như trẻ thơ, sẽ xuống đường ca hát mừng cho quê hương thôi không còn chinh chiến. Nếu có ngày đó, tôi sẽ là một ”ông lão trẻ thơ” nghịch ngợm, rắn mắt nhưng không hề nghịch ngợm với lòng ác độc, hỗn hào.

NMT: Từ “Ngửng Mặt Nhìn Trăng Sáng” cho tới “Ngày N+…”, anh có sửa đổi thêm thắt gì không? Sự thêm thắt ấy do nhớ lại nhiều chi tiết hơn hay là trộn lẫn thêm những suy tưởng và cả những hư cấu cần thiết?

HKP: Trọn phần đầu của ”Ngày N+…” (Pleiku – Tuy Hòa) là phần viết về con đường Liên Tỉnh Lộ 7B, mà quân dân 3 tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn di tản xuống Tuy Hòa. Phần này gồm có 70 trang giữ nguyên từ ”Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng”, không sửa đổi thêm thắt. Từ phần hai (Qui Nhơn – Phú Quốc) và phần ba (Sài Gòn – Subic Bay) và lá thư gởi cho các em học sinh của Trường Tiểu

Học Vườn Hồng được viết sau này. Ba phần còn lại dài hơn 200 trang được viết tiếp. Khi viết Ngày N+…, tôi không thêm chi tiết, hay hư cấu những điều cần thiết (Anh có vẻ thích hư cấu, nên cứ hay lùa người viết hồi ký vào con đường này). Nguyên nhân chính chỉ vì khi chúng tôi thực hiện Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng, số tiền của nhà xuất bản Bố Cái, dành cho cuốn sách của Hoàng Chính Nghĩa và tôi chỉ có thể in được bấy nhiêu thôi. Ngày đó in tại nhà in Mỹ đắt gấp ba bây giờ in tại nhà in Việt. Sau này nhà Văn Nghệ muốn tái bản cuốn này, tôi đề nghị để tôi viết trọn vẹn cuốn sách, mà 10 năm trước tôi chỉ in được một phần thật nhỏ.

NMT: Nhà văn Nguyễn Mộng Giác có nhận xét anh là người đi chênh vên giữa suy tưởng và hành động, giữa lý thuyết và thực tế, mong tạo dựng một guồng máy khác với guồng máy hiện nay và khao khát hành động. Với cách thế soi gương nhìn lại chính mình, anh có ý nghĩ gì? Và có thể giải thích cho độc giả biết?

HKP: Tôi với anh Nguyễn Mộng Giác giao thiệp với nhau qua nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, đến nay cũng đã trên 20 năm. Tôi có thói quen chơi với bạn, và không dấu diếm điều gì, do đó qua thơ văn của tôi, qua cách giao thiệp của tôi với một số người không phải là dân văn nghệ, anh Giác có một lúc nào đó sợ tôi xao lãng việc viết lách, và sa chân vào con đường hoạt động chính trị.

Quả thật tôi có sinh hoạt với một nhóm, trong nhóm này trước kia có cả vợ chồng Cao Xuân Huy, và ngay như tập thơ thứ hai của tôi với cái tên: Phục Hồi Quyền Chức Làm Người” (Bài thơ mang tên cho toàn tập thơ là bài thơ tôi viết về ngày Cách Mạng 1-11-63). Những đề tài của tập thơ này phần lớn liên quan đến thời cuộc, là những suy nghĩ của anh em chúng tôi trong lãnh vực chính trị và cách mạng.

Tôi chống miền Bắc cật lực, nhưng tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với miền Nam, thành thử những bài thơ tôi viết, tôi chống cả hai miền. Ngày đó chúng tôi còn trẻ, mới 25, 26 tuổi đầu và mơ đội đá vá trời. Chúng tôi học tập mê say, những mong có một lúc nào đó khi đã đủ lông, đủ cánh và trong hoàn cảnh thuận tiện, chúng tôi sẽ xuất đầu lộ diện.

Tôi thấy chính quyền miền Bắc thì khỏi nói, bởi vì họ đã giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa qua những khẩu hiệu như “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”, còn chính quyền miền Nam, do những thúc đẩy của người bạn đồng minh Mỹ, mỗi lúc mỗi xa chính nghĩa dân

tộc, do đó trong thâm tâm tôi, tôi mong có một sự thay đổi lớn. Và nếu có sự thay đổi guồng máy này, chắc chắn tôi sẽ tham dự với tất cả trái tim và khối óc của tôi. Để thực hiện điều này, tôi đã sửa soạn tâm lý chính tôi, vì tôi hiểu dấn thân vào lãnh vực này, sẽ có ngày ở tù như bỡn. Tôi không bao giờ hối tiếc những đêm không ngủ, trải dài trong các ngõ hẻm tối tăm, nơi các nhà bạn tôi. Thời gian tôi phục vụ tại Trại Tù Binh Biên Hòa, mỗi buổi chiều sau khi điểm danh đơn vị xong tôi về Sài Gòn, sinh hoạt với các bạn trong nhóm. Tôi chỉ về lại đơn vị sau nửa đêm. Những hôm sáng trăng trên đường về, ngang qua Nghĩa Trang Quân Đội. Tôi không thể không buồn khi nhìn thấy pho tượng ”Tiếc Thương” của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hiu quạnh dưới ánh trăng. Đôi lúc tôi có cảm tưởng tôi là bạn của pho tượng này.

Bây giờ nghĩ lại, tôi cho là nhận xét của Nguyễn Mộng Giác có phần nào đúng khi viết tôi là người đi chênh vênh giữa hành động và suy tưởng, giữa lý thuyết và thực tế. Ngay cả bây giờ tôi tự biết chưa có được sự cải thiện nào, với nhận xét của người bạn văn, có với nhau hơn 20 năm giao tình gần gũi. Nếu có sự tiếc nuối nào thì tôi tiếc là tôi chưa bao giờ đích thực dấn thân. Nơi đây, bây giờ (1995) việc dấn thân trong lãnh vực chính trị này đôi lúc làm cho tôi… buồn cười. Tôi biết có những nhân vật cùng một lúc có mặt trong 5, 6 đoàn thể. Chỉ cần có mặt thôi vì nhiều khi cuối tuần buồn chẳng biết đi đâu, nhiều người lớn tuổi sợ rằng đời đã quên mình, nên hốt hoảng hành động, nói năng như người lên đồng. Nơi đây có những trò ”chích máu ăn thề”. Máu thì chích được một giọt, thề thì ăn toàn cao lương mỹ vị, Bây giờ tôi hết còn muốn dấn thân, nhưng những suy nghĩ thì không thay đổi được.

NMT: Chuyện 30-4-75 có phải là chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ không? Nếu có người tiếp tục viết về đề tài ấy, anh nghĩ sẽ có sự nhàm chán của độc giả không? (Xin loại trừ các cuốn hồi ký viết theo đơn đặt hàng, hay những lời chối quanh quẩn)

HKP: Chuyện 30-4-75? Đó là chuyện vỡ nước, tan nhà, đâu có phải chuyện chơi, chuyện giỡn. Chuyện 30-4-75, đó là mùa thảm kịch chụp xuống cả một dân tộc, không phân biệt người Bắc hay Nam, toàn bộ đất nước ở cả hai bờ con sông Bến Hải. Nếu chúng ta còn một chút liêm sỉ, thì chúng ta phải giở trang sử u buồn này một cách nghiêm túc. Tôi viết cuốn ”Ngày N+…”, không phải để bào chữa cho những hành vi của tôi, mà để nói lên những gì liên quan đến 45 ngày cuối cùng của tôi tại miền Nam, và tôi cũng tin rằng có nhiều người khác viết hồi ký về giai đoạn này, với một trái tim thắt lại.

Về phía những người đọc, sau 15, 20 năm ổn định nơi xứ người, đã có nhiều người không muốn quay đầu nhìn lại, những người này muốn xóa hẳn cái ký ức của giai đoạn u buồn tang tóc này. Tôi thông cảm với những độc giả này, đôi khi người ta phải quên đi để mà sống thanh thản. Tôi cũng biết có một số hồi ký được viết với thiên kiến lệch lạc, đổ tội quanh quẩn. Làm thế nào được, đến giờ này vẫn còn nhiều người ca tụng ông Thiệu là danh tướng, ông Khiêm, ông Viên là danh tướng. Ông Kỳ thì xui hơn, không được ai ca tụng là danh tướng cả, chỉ vì ông đã hết tiền, đã một lần khai ”bankrupcy”. Tuy nhiên ông Kỳ đích thân viết một cuốn hồi ký cho ông, nên không cần những người khác viết hộ. Giờ này mà viết ca tụng các ông Thiệu, Khiêm, Viên, Toàn, Quang… là danh tướng thì chẳng những hết thuốc chữa, mà còn là một hành vi phỉ nhổ vào những nấm mồ hoang vô chủ của những người lính vô danh, đã nằm xuống trong khi bảo vệ các phần đất càng ngày càng ngày thu hẹp lại, cũng như những người dân chết oan trong thời điểm tháng 4-75.

Tôi không nghĩ là có sự nhàm chán của độc giả với những cuốn sách được viết bằng sự chân thành. Những ai muốn quên thì đã không đọc, có dí vào tận mắt họ cũng quay đi. Còn những độc giả muốn nhìn cho rõ sự thật, họ sẽ tìm đọc. Lấy ví dụ cuốn sách của anh Cao Xuân Huy, anh đã không đọc nó thì thôi, anh đã ”bặp” được vài trang, thì anh sẽ phải đi cho kỳ hết cuốn sách. Hãy gạt bỏ những chi tiết lịch sử sang một bên, vì những cuốn hồi ký luôn luôn có tính chủ quan của người viết. Nhưng trên bình diện con người, những cuốn hồi ký được viết bởi lòng chân thành, viết về những đồng đội cũ, nói thật và nói thẳng. Cho dù sự thật đau lòng đến đâu chăng nữa, có làm cho người viết, và đồng đội của ông ta soi gương thấy mặt mũi khó coi tới đâu chăng nữa, thì đôi khi chúng ta cũng phải cay đắng nhận được đôi điều về phía của chính chúng ta. Đôi lúc tôi có cảm giác hình như thảm kịch đến từ phía đối phương, ít hơn thảm kịch đến từ phía chúng ta đối với chúng ta.

Đừng bắt Nhân Dân Tự Vệ phải xấu hổ về sự thất bại của cả miền Nam. Nhân Dân Tự Vệ đâu có tầm vóc, kích thước lớn quá vậy?

NMT: Nếu có người đề nghị mang lá thư anh gửi cho các em học sinh của Trường Tiểu Học Vườn Hồng lên đầu cuốn sách “Ngày N+…”, anh có sự suy nghĩ nào? Có phải đó là một phương cách mở đầu quyển sách với rất nhiều ấn tượng mạnh?

HKP: Tôi không nghĩ đề nghị này sẽ tác dụng mạnh hơn cho cuốn sách. Lá thư gửi cho các em học sinh của Trường Tiểu Học Vườn Hồng phải ở cuối, bởi cuốn sách không nên đóng lại bằng những đớn đau, ê chề, nhục nhã. Cá nhân tôi bỏ đi không có gì đáng tiếc, nhưng tôi còn một chút hy vọng vào tương lai của xứ sở. Quốc gia chúng ta đã từng bị Bắc Phương đô hộ cả ngàn năm, đã bị Tây Phương cai trị cả trăm năm, mà nước Việt vẫn tồn tại trên bản đồ thế giới. Chúng ta mới có một cuộc chiến Nam Bắc 20 năm, nhưng chúng ta đã từng có một cuộc tương tranh Trịnh Nguyễn kéo dài tới hai thế kỷ. Lịch sử không bao giờ ngưng lại tại đây. Đây chỉ là một giai đoạn lịch sử bất lợi cho miền Nam, cho toàn thể dân tộc. Tôi gửi những hy vọng của tôi qua tập sách này, đến các thế hệ kế tiếp. Tôi hy vọng họ sẽ thấy được những sai lầm của thế hệ chúng ta, ngõ hầu họ có thể tránh được những điều làm phương hại đến vai trò của họ, trong giai đoạn lịch sử sắp tới. Do đó trước khi được ngỏ lời với họ, tôi phải có can đảm đi qua những vũng bùn của chính tôi.

NMT: Làm thơ, làm báo, viết văn… Cái nào làm anh khoái hơn? Và cái nào đã đời nhất?

HKP: Làm thơ, làm báo, viết văn… Tất cả đều… khổ cả, chả có cái nào sướng, thì làm thế nào mà đã đời cho được. Nếu anh không tin thì đánh đồng thiếp xuống hỏi ông Tản Đà, ông Nguyễn Vỹ, anh sẽ thấy câu trả lời của hai vị tiền bối này không khác câu trả lời của tôi bao nhiêu.

NMT: Bây giờ anh nghĩ văn học Việt Nam ở hải ngoại có nhiều khởi sắc?

HKP: Nếu chúng ta coi nặng về số lượng thì quả là văn học Việt Nam hải ngoại có nhiều khởi sắc. Còn nếu chúng ta quan tâm tới phẩm chất của văn học hải ngoại, thì tôi e rằng phải xét lại.

NMT: Hình như đã có dòng nước xuôi nguồn chẩy? Thế còn những cái không phải là nước cũng trôi theo dòng văn học ấy? Anh có thể thẳng thắn nhận định một lần?

HKP: Thú thật với anh tôi không thích câu hỏi này. Tuy nhiên thích hay không thích thì vấn đề vẫn nằm chình ình tại đó. Tôi rất thẳng thắn trả lời câu hỏi không mấy thích thú này. Có gì mà phải lách, né. Hiện nay ở hải ngoại quả là chúng ta có một dòng văn học, có điều dòng nước thì không trong trẻo. Những cái không phải là nước trong cái dòng này thì có lẽ không kiểm kê nổi, do đó cái dòng mà anh cho là xuôi nguồn chẩy đó, lượng nước rất ít. Nó là một cái dòng sền sệt không được trong, đôi khi còn nặng mùi. Nếu phải lấy một ví dụ tượng hình, thì tôi chọn hình ảnh của của dòng nước chẩy dưới Cầu Kiệu, Phú Nhuận.

Lấy một ví dụ có tính văn học hơn thì không biết anh có nhớ một câu chuyện trong thời Chiến Quốc: Có một ông vua thích nghe thổi sáo, hợp tấu hàng trăm người. Rất nhiều người không biết thổi sáo, cũng đến kiếm ăn bộn. Khi ông vua này chết đi, con ông ta lên làm vua, cũng mê thổi sáo. Có điều ông vua mới này chơi khó, chỉ thích từng người thổi sáo, do đó có nhiều người trước kia chỉ kê miệng vào ống sáo, bây giờ thất nghiệp. Hiện nay văn học hải ngoại đang được mùa hợp tấu. Chúng ta sẽ không bao giờ bước sang được mùa độc tấu, nhưng tôi vẫn tin chắc độc giả biết ai thổi sáo thật, và người nào chỉ kê ống sáo vào miệng và thổi giả vờ. Trên mọi lãnh vực, những lời khen xã giao có thể chấp nhận được, nhưng trong lãnh vực chữ nghĩa, chúng ta nên thận trọng những lời khen đãi bôi, để độc giả không bị những ông thổi sáo giả tra tấn bằng những cuốn sách có chữ mà không có nghĩa.

NMT: Anh có để ý đến những sinh hoạt chính trị bây giờ? Nếu có, anh nghĩ sao về những điều sẽ làm thay đổi thời thế hôm nay?

HKP: Chúng ta là những kẻ đã chạy trốn tổ quốc, bởi không thể chịu nổi cái khung cảnh mà hơn 2000 năm trước Khổng Tử gọi là: ”hà chính mãnh ư hổ”. Chúng ta chọn lựa tự do, cho dù tự do chỉ là những ý niệm vô cùng trừu tượng. Tự do một cách tuyệt đối chỉ có thể là một ý niệm trong triết học, nên trong thực tế ngay cả nước Mỹ này, nó cũng chỉ có giá trị tương đối và giới hạn.

Nói một cách khác: Chúng ta phải bỏ nơi phải bỏ, và tới nơi phải tới. Chỗ phải bỏ mới gần là địa ngục, chỗ phải tới thì không hẳn là thiên đường. Do đó mà có một số đông chúng ta sống ở đây, mà hồn thì ở nơi khác. Những người nào đã tìm thấy thiên đường nơi đây, thì không còn gì phải bàn. Còn những ai đột nhiên một buổi sáng tỉnh dậy, thấy hoa đào nở ở nơi góc vườn mà lòng quặn lại, nhớ tới những cánh mai vàng của chốn cũ. Thấy những cơn mưa rào gõ vào kính xe, bỗng thấy ẩn hiện những đứa trẻ tắm mưa, cởi truồng chạy luông tuồng trong con ngõ hẹp. Nửa khuya thức giấc chập chờn như nghe tiếng rao quà ban đêm, và mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư, không muốn tham gia bất cứ một cuộc hội họp nào, cứ lủi thủi trong căn phòng hẹp, hay leo lên xe tìm đến một chỗ vắng người, để thổn thức cùng đất trời cây cỏ. Những người đó không thể không nghĩ đến chính trị.

Bước vào vấn đề này, chúng ta bước vào một mớ chỉ rối nùi.

Dường như chúng ta có hàng ngàn đoàn thể, tổ chức chống Cộng. Tôi tự hỏi tại sao nhiều vậy? Nhiều tổ chức như thế chắc hẳn việc chống trả với Cộng Sản hữu hiệu hơn? Không phải. Tôi chưa thấy một tổ chức nào đánh được Cộng Sản một đòn đích đáng, nhưng tôi thấy nhiều đoàn thể bị những đoàn thể khác đánh cho tan tành, nhừ tử. Chưa bao giờ chúng ta có nhiều nhân sĩ công đồng như thời điểm hiện tại. Những nhân sĩ này mặc đồ lớn, xuất hiện ở chốn quan, hôn, tang, tế và chờ dịp lên micro phát biểu. Bây giờ chúng ta có tới 12 đài phát thanh, tôi lắng nghe nhiều lời phát biểu trong các cuộc hội luận chính trị trên làn sóng phát thanh, mà lỗ tai lùng bùng cả ngày. Tôi phục những vị phát biểu đầu Ngô mình Sở này ở chỗ họ là những người…can đảm.

Có nhiều lần tôi được thấy những lá cờ VNCH, được may lên áo dài, cà vạt. Một lần trong hội chợ Tết tổ chức tại Pomona, tôi thấy một phụ nữ Mỹ cao, to, béo, trắng mặc áo dài mầu vàng, ba sọc đỏ chạy vắt chéo ngang ngực, và trên tay bà này ôm một con chó nhỏ xíu đi ve vẩy trong hội chợ. Hình ảnh này trông vô cùng giễu cợt, lạ một điều là những nhân sĩ cộng đồng tổ chức hội chợ này, không một ai cảm thấy khó chịu, và dường như họ còn hãnh diện đi bên cạnh người phụ nữ Mỹ phốp pháp ôm con chó nhỏ này, cười tươi như hoa những khi được chụp hình. Có một ông ca sĩ thuộc vào hàng lính kiểng ngày xưa, bây giờ đã trở thành thi sĩ, mỗi khi đi biểu tình còn sơn mầu cờ lên mặt. Lá cờ đó tôi đã nhiều lần đưa tay lên vành mũ, lên chỗ ngang chân mày, ngước nhìn nó bay lượn giữa trời xanh. Lá cờ đó đã phủ lên quan tài của cả triệu người trong cuộc chiến.

Nếu thật sự lá cờ đó ngự trị trong lòng chúng ta, thì không cần phải may lên áo, cà vạt, vẽ lên mặt lên trán, mà hãy ghi thật sâu trong tim, trong óc. Tôi nghe các bạn tôi sang sau kể lại: Có nhiều sĩ quan QLVNCH, trong thời gian đi tù cải tạo, thà bị biệt giam, bỏ đói vài ngày, chứ không chịu lấy cờ may quần đùi. Đối với người Mỹ, tập quán của họ cho phép dùng cờ để may xi líp, nhưng với chúng ta thì không nên làm như thế. Tôi có đi quá xa câu hỏi của anh hay không?

Hãy trở lại với câu hỏi của anh, với mớ chỉ rối nùi của tôi. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều lãnh tụ như hiện nay, càng lúc tôi càng có cảm giác tôi gặp hàng ngày hàng trăm lãnh tụ, mà nếu nhiều như thế, thì e rằng không phải của thật. Lịch sử đã một thời có 12 sứ quân, bây giờ chúng ta có trăm, ngàn, vạn, mớ sứ quân. Chỉ tiếc rằng các sứ quân hôm nay đã hiếm tài, lại ít đức (Tôi nói có bằng chứng. Anh cứ chỉ cho tôi một sứ quân, tôi sẽ có cả chục bằng cớ của các sứ quân khác hạch tội). Trong chính trị, chúng ta đang lạm phát lãnh tụ, thì cũng hệt như trong văn chương chúng ta đang ở vào triều đại thổi sáo bầy mà tôi đã đề cập tới bên trên.

Hãy lấy một con số khiêm nhường, trong hàng trăm lãnh tụ hiện nay đang bí bí, mật mật, đang hô hào, đang diễn thuyết có bao nhiêu người thực sự làm công việc chính họ đang hô hào? Khi tôi đặt nghi vấn như vậy, tôi biết rất rõ có nhiều người chống Cộng vì sợ người đời quên mất cái địa vị cũ của mình. Có nhiều người chống Cộng vì business, thiếu gì người vì cái danh hão để được lòng người đẹp.

Lấy ví dụ cụ thể vào lãnh vực chính trị: Vấn đề bang giao giữa Mỹ và Việt Nam. Việc này ảnh hưởng đến tất cả mọi người, trong nước cũng như ngoài nước, chống Cộng hay không chống Cộng, hoạt động chính trị hay không hoạt động chính trị. Nếu chúng ta chống việc bang giao, thì tại sao chống? Nếu cổ võ thì tại sao cổ võ? Những dấu hiệu của việc bang giao đã có từ nhiều nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ, thế mà ngày Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, tôi đã nghe một lãnh tụ cộng đồng cho biết là ông ta bị ”sốc”. Không thể bị sốc trong khi hoạt động chính trị, phải tỉnh táo và chủ động trong việc làm.

Không thể hoạt động chính trị trong cung cách hết sức thụ động, chờ coi người Mỹ làm gì? Nhiều người hoạt động chính trị còn giữ được nguyên vẹn tính nô lệ, trông chờ người Mỹ bật đèn xanh hay đỏ, rồi mới án binh bất động hay xăn tay áo vào việc. Đối với Cộng Sản cũng chờ coi họ làm gì rồi mới có phản ứng. Tôi không đặt vấn đề chống hay thuận trong việc bang giao. Tôi đặt vấn đề nếu Hoa Kỳ và Việt Nam bang giao thì phải làm gì? Các đoàn thể và đảng phái chính trị hễ đăng đàn thuyết pháp thì luôn luôn kêu gọi đoàn kết, thế có nghĩa là chúng ta đang chia rẽ cùng cực. Hãy mở các tờ báo, lắng nghe các đài phát thanh để ước lượng được sự chia rẽ trầm trọng đến như thế nào. Giờ là lúc phải gạt bỏ mọi tị hiềm cá nhân, ngồi lại lo việc chung. Các hội đoàn, tổ chức, đảng phái đã nghĩ đến thế trận mới này chưa? Lúc này ai bảo được ai?

NMT: Đời sống và văn chương không thể tách rời, điều ấy rất đúng. Có phải những bài viết đã nêu trong câu hỏi trên, là những phần hòa hợp của hai thực thể ấy?

HKP: Trong câu hỏi của anh đã hàm chứa câu trả lời. Đúng văn chương và đời sống với tôi là hai thực thể không thể tách của một nhà văn. Nếu nghĩ như vậy thì những bài văn ấy quả là một dạng tổng hợp của hai thực thể đó. Xác định hơn nữa nó là một phần đời sống của tôi.

NMT: Đối tượng của anh khi viết những bài văn trên là ai? Có phải là sẽ đi xa hơn là những tâm sự với những người thân, với Trần Hữu Lục, Vị Ý…

HKP: Chắc chắn như vậy, thời điểm chúng ta đang sống là một thời điểm lạ lùng, và phức tạp nhất. Chúng ta có thể bị quất ngã bởi một nghìn thứ. Trước tiên hết là hai phe Quốc và Cộng, phe nào cũng có thể đốn con người quỵ xuống như đốn một cây chuối. Xã hội miền Bắc có những khó khăn của họ, và xã hội trong Nam có những khó khăn khác. Hãy nói về vùng đất của chúng ta: Con người có thể bị vong thân do rất nhiều nguyên nhân, chiến tranh, tham nhũng, gian thương, nghèo đói, bệnh tật, ngu dốt… Hiểm họa do con người tạo ra đã chập chùng, mà thiên nhiên còn toa rập thêm những hạn hán, lụt lội, bão tố, mất mùa…Do đó những bài viết này không là những trao qua, gởi lại giữa những người bạn trong cuộc mà thôi. Tôi dung những hoàn cảnh, điều kiện, sự việc đó như là những thí dụ có thật, như là những gợi ý cho những trường hợp tương tự.

Thư gửi cho một người bạn văn là những suy nghĩ của tôi, với một người bạn cũ đã ở lại và bước hẳn qua lằn ranh bên kia, và những suy nghĩ này chỉ hạn hẹp trong liên hệ của những người cầm bút. Nó có thể xẩy ra giữa tôi và Trần Hữu Lục, nó có thể xẩy ra giữa anh và một nhà văn nào đó còn ở lại quê nhà. Nó có thể xẩy ra giữa bất kỳ một nhà văn nào ở đây, với một nhà văn phía bên kia. Nếu chúng ta nhìn rõ chúng ta đang ở đâu, trong cơn biến động này, và giới hạn những hoạt động của chúng ta trong những gì chúng ta có thể làm tốt, như thế là chúng ta đã tiến được một bước về phía hành trình tìm lại chính chúng ta. Tuy vậy nó không đơn giản. Trước tiên chúng ta phải có tấm lòng yêu điều thiện, ghét điều ác, lòng phải mở ra, bao dung độ lượng, chúng ta sẽ tự cảm thấy cho dù không khí chính trị có ngột ngạt tới đâu chăng nữa, giữa những nhà văn cũng còn một chỗ thật nhỏ nhoi để thở.

Chiến tranh thì quá lớn, trong góc nhìn hạn hẹp của mỗi nhà văn, nếu còn để những thiên kiến, đố kỵ, hẹp hòi, thiển cận… chi phối thì viết làm chi. Chúng ta là nhà văn, nhà văn Việt Nam ít có người giầu có. Nếu có những nhà văn giầu có, thì họ là một cái gì đó trước khi là nhà văn, thương gia, bác sĩ, luật sư, nha sĩ, chủ chợ, bán nhà, bán xe chẳng hạn… Nhà văn chỉ có mỗi một tấm lòng, do đó tôi muốn mở toang nó ra, không phải chỉ để tâm sự với một vài danh tính, một vài cá nhân mà mong mỏi cũng như không ngần ngại đem chính mình ra làm một ví dụ. Xấu hay tốt cũng tùy vào các sự kiện, và bởi cách nhìn của những tấm lòng khác. ”Cứ gõ đi rồi cửa sẽ mở”. Đây là chữ của Thánh Kinh, không phải chữ của tôi. Cũng đừng quên lời nói phải đi đôi với việc làm. Đừng dối lòng mình, đừng dối người, đừng hoa ngôn, xảo ngữ. Đừng để những đám mây đen kịt làm vẩn đục bầu trời.

NMT: Anh có luôn luôn suy nghĩ, bây giờ chúng ta phải cầm bút như thế nào?

HKP: Không phải tới bây giờ mới suy nghĩ phải cầm bút như thế nào? Tôi nghĩ tới điều này ngay từ những bài thơ đầu đời của tôi. Nhân tiện đây, tôi bổ túc cho một câu trả lời của anh Cao Xuân Huy, tôi đọc được trong tờ Thế Kỷ 21, số 2 phát hành vào tháng 6 năm 1989: Anh Huy cho biết làm nhà văn ”dễ ẹc”. Nấc thứ nhất của câu trả lời này là ai cũng có thể làm nhà văn. Nấc thứ hai tôi muốn bổ túc thêm là khi đã là nhà văn rồi, anh sẽ sẽ cầm bút như thế nào? Nhiều người đã dừng lại ngay ngưỡng cửa của nấc đầu.

Nếu một nhà tu lên đường bằng niềm tin, thì nhà văn phải lên đường bằng lòng chân thật. Hãy nhìn sang phía Cộng Sản, có bao nhiêu nhà văn chân thật dám nói lên, dám viết ra những điều suy nghĩ trong đầu. Những nhà văn này không sớm thì muộn đều bị hất ra khỏi Hội Nhà Văn, và rồi hàng ngàn vạn bất trắc ở đâu ập tới. Năm 1957 vụ ”Nhân Văn Giai Phẩm” nổ ra trên miền Bắc, hơn 30 năm đã qua đi, nhiều người đã chết mà những người còn sống có người chưa ngoi ra được khỏi bóng tối. Năm ngoái Phùng Quán chết, năm nay là Văn Cao, kiểm điểm lại những con người không bị khuất phục này còn được bao nhiêu: Một Trần Dần sống không sống được, chết chẳng chết cho, qua truyện của Thế Giang thì Trần Dần dùng ”Hộ Khẩu Âm Phủ” hơn ba chục năm ròng rã, Phùng Quán trong ”Trăng Hoàng Cung” cũng xác nhận ”Cá câu trộm, Rượu uống chịu, Văn viết chui” trong 32 năm liền. Hoàng Cầm cũng chẳng hơn gì, lao đao ê chề mấy chục năm ròng rã. Con người tài hoa nhất của thời điểm đó là Văn Cao, con người đầy ắp nhạc, họa, thơ, văn và là tác giả của nhiều bài nhạc bất hủ trong đó có bản ”Tiến Quân Ca”, bài quốc ca của miền Bắc, sau khi dính líu vào vụ án văn học này, đã không bao giờ lên tiếng, cũng như ngưng sáng tác âm nhạc, hội họa cho tới ngày qua đời, ngoại trừ một bản nhạc duy nhất được viết vào dịp tháng 4 năm 75. Khác với những người sáng tác khác, reo hò tở mở về chiến thắng, bài nhạc của Văn Cao nói về sự thống nhất hai miền bằng những lời hát chứa đầy những giọt nước mắt bi ai. Bài nhạc “Mùa Xuân Đầu Tiên” chưa kịp phổ biến rộng rãi, chưa có một ca sĩ thành danh nào nhận trình bầy, thì thì đã bị nhà nước thu về. Mãi tới sau khi Văn Cao mất vào năm 1995, thì bản nhạc này mới được trình diễn trước công chúng lần đầu. Tôi không nghĩ là Cộng Sản hay bất cứ một chế độ độc tài chuyên chính nào có thể bóp nghẹt được các nhà văn đích thực. Cứ lớp này ngã xuống, sẽ có lớp khác tiến lên. Đó là chưa nói tới nền văn chương truyền khẩu, qua các ca dao tân thời, các bài vè, sửa lại các bài ca, truyện tiếu lâm…mà các tác giả vô danh đã lẩn sâu vào trong quảng đại quần chúng, cốt chỉ dùng văn chương trào phúng, truyền khẩu như là một vũ khí để chống lại bạo quyền.

Trở lại với chúng ta, vấn đề của những người cầm bút lưu vong lại khác hẳn. Nếu nhận xét của anh Cao Xuân Huy mang tính chất khôi hài, thì vấn đề không đến nỗi quá nghiêm trọng. Thực tế thì làm nhà văn quả có ”dễ ẹc”, nên nơi đây chúng ta có nhiều loại nhà văn. Ở đây không một ai dọa bỏ tù, cúp hộ khẩu, đuổi sở. Ở đây không có hệ thống Công An áo vàng, nên không một ai vì viết văn mà bị Công An nhòm ngó, con cái không bị đuổi trường. Nhưng nếu không thích viết văn, thì cũng không một ai dí súng vào màng tang bắt phải viết văn. Chúng ta có những nhà văn chuyên về quảng cáo, nhà văn chuyên về đánh đấm, nhà văn chuyên về thời trang, chuyên về điện ảnh, thẩm mỹ và dĩ nhiên rất nhiều nhà văn Chống Cộng. Tôi dùng chữ nhà văn Chống Cộng với lòng khâm phục, tuy nhiên có người được khâm phục nhiều, có người tôi khâm phục ít. Chống Cộng kiểu ”Đ. M mày Cộng Sản” thì chỉ có một chút xíu khâm phục về…kỹ thuật viết văn. Cao cấp hơn một chút là chống kiểu trào phúng: ”cái nồi ngồi trên cái cốc”, thì phục thêm một tầng. Tôi chân thành ngưỡng mộ những người âm thầm làm việc, viết một cách bền bỉ, mổ xẻ tới nơi, tới chốn những ưu khuyết điểm của chúng ta, cũng như của Cộng Sản ngõ hầu cho người đọc có cơ hội ”ôn cố tri tân”, tránh những điều sai lầm cũ, tạo một trận tuyến mới trong lãnh vực văn hóa.

Tôi không bao giờ đòi hỏi mọi nhà văn phải viết tác phẩm chống Cộng, nhưng tôi mong các nhà văn hãy trân trọng với những tác phẩm của mình, viết cho thật hay đã đủ là một hình thức chống Cộng rồi. Đúng thế, một trong những cách hữu hiệu nhất để chống lại bạo quyền trong nước là hãy làm tốt những gì mình phải làm, không nhất thiết là nhà văn, ai nấy đều làm đúng công việc của mình, tạo thành một cộng đồng có sức mạnh cụ thể, chứ không phải một cộng đồng cãi nhau ngày này sang tháng khác, năm này sang năm nọ như hiện nay.

NMT: Lúc này, qua 30 năm sinh hoạt văn chương của anh, anh có vẻ viết hăng nhất. Động lực nào đã thúc đẩy? Vì cần thiết của thời thế? Vì yêu văn chương hơn sau một thời gian chán nản? Vì nhìn thấy được những tia nắng mới?

HKP: Tôi không viết trong mười năm liền, mỗi lần nhìn thấy các bạn văn có sách mới, tôi đều thấy thèn thẹn. Trong lời tựa của cuốn ”Người Trăm Năm Cũ”, khi đề cập đến việc viết của tôi, tôi nghĩ là tôi nợ rất nhiều người, cả những người viết hay và cả những người viết không hay, những người đã hợp thành dòng văn học nơi quê người này. Tôi nhắc lại một câu nói của người xưa: ”Sĩ phu mà ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt mũi khó coi”. Có thể anh và độc giả sẽ cười, không hề gì. Là một nhà văn mà mười năm liền không viết, soi gương không còn là khó coi nữa, mà là tởm lắm với riêng tôi, nếu tôi vẫn cứ tìm mọi cách chường cái mặt nhà văn không viết của mình trong mọi chốn đông người. Đúng như thế, hiện nay tôi có nhu cầu viết, tôi đang sống bằng nghề cầm bút, với một số lương tươm tất cho một mình tôi. Tôi không có nhu cầu nhiều, nhà không có, xe cũ không bảo hiểm, không ăn nhậu, không nhẩy đầm, không cờ bịch, thì quả tình tôi đang sung sướng với một số lương khiêm tốn so với những người làm sở Mỹ. Tôi không hề có ý tự đề cao, mà bởi vì tôi không còn những thú đam mê vừa nêu trên. Có lẽ nói cho đúng không phải là nhu cầu viết, mà là nhu cầu nghề nghiệp.

Nhìn thấy tia nắng mới, không. Hiện nay chúng ta đang ở trong một con đường hầm tối như bưng. Chính trị tối theo kiểu chính trị, văn học tối theo kiểu văn học, và ngay cả thương mại, thì anh cứ nghe các đài phát thanh xem cách quảng cáo của các thân chủ là thấy ngay về thương mại chúng ta cũng không sáng sủa gì. Nếu tôi cứ đứng yên mãi trong đường hầm, thì tôi sẽ không bao giờ thấy được ánh sáng, bây giờ hành vi viết của tôi cứ cho là đang lần mò trong bong tối, đi được bước nào hay bước ấy, lết tới trước, may ra có một ngày nhìn được ánh sáng nơi miệng hầm. Trên năm mươi thì khó ra khỏi căn hầm này, nhưng có thể nhìn thấy được một chút ánh sáng le lói cuối đường hầm.

NMT: Anh có ước mơ nào cho tác phẩm của mình?

HKP: Mơ ước cho một tác phẩm? Có chứ. Nhưng không mơ ước cho một mình tôi. Tôi mơ ước cho văn học Việt Nam, kể cả những người cầm bút trong hàng ngũ của tôi, hay trong hàng ngũ bên kia. Bất kỳ là ai, một nhà văn, nhà thơ Việt Nam được giải Nobel về văn chương. Bất cứ là ai trong nước hay ngoài nước, dẫu giải Nobel càng ngày càng mất đi cái vô tư của nó, càng ngày càng bị chính trị, quyền lực thẩm thấu, nhưng Nobel văn chương khác với Nobel hòa bình, Nobel hòa bình chỉ thật sự xấu khi đem phát cho hai người là ông Kissinger và Lê Đức Thọ mà thôi. Nhưng mơ ước là một chuyện, và khả năng thực hiện là một chuyện khác. Tôi nghĩ bối cảnh chiến tranh Việt Nam có dư kích thước cho một tác phẩm lớn, một tác phẩm so với văn học của toàn thế giới không một chút mặc cảm nhược tiểu. Chính trị, Quân Sự, Kinh Tế, Kỹ thuật mới có vấn đề cường nhược, chứ còn văn học thì không có đại cường và nhược tiểu. Điều quan trọng là nhà văn phải làm việc nghiêm túc hơn, làm thơ, viết văn hơn là mê mải lo chức chủ tịch các trung tâm văn bút. Tất nhiên sinh hoạt văn bút cần có, nhưng nhân cách của một nhà văn quan trọng không thua gì tác phẩm của ông ta. Đã không có tác phẩm lại không có nhân cách, thì làm thế nào mà quy tụ, điều động những nhà văn khác được, làm thế nào chống trả trong mặt trận văn hóa được.

Tôi vẫn hằng tin tưởng vào tương lai của tổ quốc tôi, của dân tộc tôi, tôi cũng vẫn tin tưởng vào tương lai văn học Việt Nam, sẽ có một ngày nào đó, một nhà văn, nhà thơ Việt Nam mang được vinh quang về cho sắc dân luôn tự hào về 5000 năm văn hiến, mà không lẽ không tích lũy được một chút nào vốn liếng cũ hay sao? Ước mơ cho một tác phẩm lớn? Bất cứ ai cầm bút thật sự, chứ không phải cầm bút để lòe thì đều nghĩ tới điều này. Nghĩ là một chuyện, có làm được hay không là một chuyện khác. Thiên nan vạn nan, chứ đâu có phải chuyện hội họp, diễn thuyết, ngâm thơ, đọc phú, chụp hình đăng báo.

Ít nhất hiện nay chiến tranh tàn đã được hai chục năm, cái dòng cuồng lưu cuồn cuộn máu đào đó giờ đây đã lắng, nước tuy chưa hẳn đã không còn tanh nồng, những người viết có đủ thời gian chiêm nghiệm lại mình, nghĩ về đời sống, về tương lai, nghĩ về tác phẩm. Nhất là những nhà văn tại hải ngoại có nhiều điều kiện, đủ tài liệu cũng như phương tiện để sửa soạn cho một tác phẩm có kích thước, có chất lượng. Tôi tin vào những nhà văn trẻ hơn tôi, không bị chiến tranh o ép, không bị những thiên kiến của quá khứ chi phối, được đào tạo kỹ lưỡng, được hấp thụ một nền giáo dục cởi mở, sẽ đi xa hơn thế hệ chúng tôi. Trong thế kỷ này có thể văn học Việt Nam chưa chắc đã dương danh được với văn học toàn thế giới, nhưng 20 năm nữa, phải biết đâu chừng 20 năm nữa chúng ta sẽ có một tác giả mang giải Nobel văn chương về cho chúng ta.

NMT: Anh có nghĩ gì về một không khí sinh hoạt văn chương trong trẻo, không có nhiều vẩn đục sẽ phải thực hiện qua nhiệm vụ của từng người và của nhiều người?

HKP: Cái đó chắc như đinh đóng cột khỏi phải thắc mắc. Sinh hoạt văn chương hiện nay không được trong trẻo, mỗi người cầm bút nên dọn sạch những vẩn đục của mình, trong khoảng riêng của mình. Đừng lo mấy người thổi sáo giả. Cái đó không phải là văn chương, có vẩn đục cách mấy cũng không dính líu gì tới các nhà văn.

Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện trong hai thời điểm 1989-1995


Bài đã đăng của Hoàng Khởi Phong

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Ban biên tập Trên Kệ Sách dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập trước khi phổ biến.