Trang chính » Giới thiệu tác giả, Trên Kệ Sách In bài này Email bài này

Trần Nghi Hoàng, kẻ lữ hành cô độc

Lâm Chương | 25.07.2008 0 bình luận |

Lâm Chương

TNH_Caricature Qua bức biếm hoạ, hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi đã lột tả được đặc tính của một người, bạn bè văn nghệ gọi đùa là giang hồ ngoại đạo: Trần Nghi Hoàng. Thoạt nhìn ông dưới nét biếm hoạ, khó ai giấu được nụ cười. Hình dung cổ quái, mái tóc để dài biếng chải, trông bẩn không chịu được. Chung quanh miệng, râu ria mọc xồm xàm sợi dài sợi ngắn rất ư là mất trật tự. Cái mũi lân, theo sách tướng là người hiền lành phúc hậu. Trong muôn một, có lẽ sách tướng cũng có sai lầm. Xét qua hành trạng, ông ta không hiền chút nào. Tất cả những yếu tố khắc khổ, bụi đời, kiều hãnh, bất cần, khinh bạc, dữ dằn, liều mạng pha trộn với nhau làm thành khuôn mặt Trần Nghi Hoàng. Không ai có thể đoán ông bao nhiêu tuổi. Đừng nhìn, chỉ nghe ông nói cười sang sảng thì đoán đây là một người đàn ông tính tình phóng khoáng, trạc tuổi 40. Nếu quay nhìn tận mặt thì lại nghĩ ông ta phải ngoài 60, nhưng nhờ uống rượu rắn, luyện Hàm Mô Công (toàn những thứ độc) của Tây Độc Âu Dương Phong nên trông còn dẻo dai rắn rỏi.

Trong bức biếm hoạ, tay ông cầm cái chày vồ to tổ bố, tua tủa những gai nhọn như muốn đe doạ người khác và sẵn sàng gây hấn với bất cứ ai trên chốn giang hồ. Trên cổ ông đeo một miếng đá thô sơ màu tím nhạt (chắc không phải loại đá quý của các bà dùng làm đồ trang sức), giữa có cái khe, hai bên có hai đường rảnh cong cong giao nhau. Nét khắc vụng về như của một tay thợ đục đá chuyên khắc mộ bia. Một buổi trưa, đang đứng bên ngoài hội trường cộng đồng người Việt Dallas, có người nhìn miếng đá sần sùi kỳ dị ấy, hỏi: “Nó tượng trưng cho cái gì?” Trần Nghi Hoàng nói: “Cái lồn.” Hai tiếng ấy phát ra một cách tự nhiên, nhưng đối với người nghe là một sự bất ngờ. Không biết ông nói thiệt hay nói chơi? Người hỏi mỉm cười bỏ đi. Cái kiểu nói chuyện tưng tửng dễ làm nhức đầu những ai có một tâm hồn quá nhạy cảm, nhất là quý bà không quen nghe những ngôn từ thô lậu bình dân “đi sâu vào quần chúng”. (Sau này, chị Bích Ti cho biết, miếng đá Trần Nghi Hoàng đeo trên cổ là một loại cổ ngọc của người Hời dùng trong việc thờ cúng, tên gọi Yoni)

Ngoài tài làm thơ, Trần Nghi Hoàng còn nhảy ra viết bình luận, phiếm luận, tranh luận, phê bình chỉ trích lung tung. Với những bài viết loại này, ông ký bút hiệu Thông Biện Tiên Sinh. Nếu ai chưa từng tiếp xúc với ông, chỉ nghe cái bút hiệu có vẻ lớn lối là muốn muốn xăn tay áo nhào vô hỏi thăm sức khoẻ liền. Đã xưng Thông Biện thì phải là người uyên bác lắm, lại còn chơi cha thiên hạ, tự đặt mình vào bậc tiên sinh trưởng thượng. Qua bút hiệu Thông Biện Tiên Sinh, cách viết của ông dường như có mũi nhọn đâm hông thiên hạ. Những người được ông chiếu cố, lấy làm khó chịu. Dù ghét ông, cũng không thể phủ nhận rằng ông có tài nhận xét một cách thông minh. Còn chuyện dùng tài năng và trí tuệ ấy thế nào là chuyện khác. Ai lại không có khuyết điểm? Và ông lại hay rình những chỗ sơ hở mà thọc mũi dùi làm người ta vừa nhột vừa đau. Nhột vì bi vạch áo cho người xem lưng. Đau vì bị ông mỉa mai châm biếm. Tôi tưởng tượng hình ảnh ông lúc đó. Lật từng trang sách, cắm cúi soi rọi bằng chiếc kính hiển vi theo kiểu vạch lá tìm sâu. Mỗi khi bắt được con sâu, mắt ông sáng lên mừng rỡ. Sau đó, ông rót một ly rượu rắn (tráng dương, bỗ thận, thông khí huyết, trị nhức mỏi), khề khà khoái trá với dĩa mồi mà ông vừa bắt được. Gắp con mồi, ông chưa vội nhai rốt ráo đâu. Ông ngó tới ngói lui, nói chuyện vòng vo tam quốc, rào đón bao vây cho con mồi không còn đường nào thoát thân. Rồi ông quan sát và phân tích thật kỹ, coi phần nào nên ăn trước, phần nào ăn sau. Ông vặt lông, ngắt đầu, bẻ đuôi, nhâm nhi, gật gù thưởng thức. Tưởng tượng cách khác, ông vừa viết vừa nhếch mép mỉm cười. Ông thừa biết kẻ bị nhắc tới sẽ nhân mặt, nhưng ông cần như thế. Ông lấy sự khó chịu của người khác làm niềm vui của ông. Bất cứ bài viết nào khi đưa lên báo chí hoặc in thành sách cũng sẵn sàng chấp nhận búa rìu dư luận. Nhưng phê bình vạch ra những khuyết điểm để tác giả nhận thức được những sai lầm và sửa chữa là điều quá tốt. Người được phê bình sẽ bái phục, sẽ hàm ân và coi kẻ phê bình như bậc thầy mình. Thông Biện Tiên Sinh cũng phê bình những khuyết điểm của người khác, nhưng ông viết với giọng văn bỡn cợt, mỉa mai, chế nhạo. Người bị phê bình cảm thấy xấu hổ. Chẳng những họ không biết ơn ông mà còn coi ông như kẻ… thù. Trong Việt Nam Thi Nhân Hiện Đại, Hoài Thanh – Hoài Chân nhận định về Nguyễn Vỹ, sau cùng phán một câu “chí cao tài mọn”. Lời phê phán ngắn gọn mà dường tảng đá ngàn cân đè nặng trên lưng. Một dấu ấn hãm tài đóng vào sự nghiệp thơ văn. Tương tự như sau 1975, hồ sơ lý lịch của ai bị liệt vào thành phần “nguỵ quân nguỵ quyền” thì đời thành rác rưởi, không mong gì ngóc đầu lên được. Nó như một thứ hoạ phù của Thích Ca Như Lai dán trên chóp Ngũ Hành Sơn, đè Tôn Ngộ Không suốt 500 năm vô phương vùng vẫy. Dù Nguyễn Vỹ không nói ra, nhưng ai cũng nghĩ ông hận và đau suốt đời. Thông Biện Tiên Sinh cái danh không đủ lớn bằng Hoài Thanh – Hoài Chân, nhưng xem ra ông có thừa khả năng tạo kẻ thù cùng khắp.

Ở đây, tôi tránh lặp lại những người bị Thông Biện Tiên Sinh châm biếm. Lập lại là mang ra mổ xẻ lần nữa, trong khi người ta chỉ muốn quên đi. Nhưng nếu không chứng minh thì hoá ra tôi nói những điều vô căn cứ. Vì vậy, tôi trích dẫn về hiện tượng mà Thông Biện Tiên Sinh lấy làm bỡn cợt mỉa mai, không nhằm vào một cá nhân nhất định nào. Trong “Chuyện về cái micro”, ông viết: “… Đa số, các ông, ông nào được mời lên cầm cái micro là cứ quyết tâm sống mái bấu chặt lấy Nó. Có ông được mời lên Nói về Tác Phẩm của người ta, mà ông cứ giả vờ quên và… lạc đề, ông lải nhải Nói mãi Nói miết về những… kiến thức táp nham của chính ông trong lãnh vực văn học! Có ông được mời lên Nói về Tác Giả, lại cứ làm bộ nhắc tới hằng hà sa số những kỷ niệm của Tác Giả và ông, để sẵn dịp Nói về cái Tôi của ông một cách đường hoàng mà lại trước bao nhiêu là người, thì ông sướng phải biết! Lại còn sự vụ một ông được lên Nói trước, Nói dài và lâu quá làm ông được mời lên nói kế tiếp… giận. Ban tổ chức và tác giả phải năn nỉ, ỉ ôi, ông mới nguôi giận mà… miễn cưỡng bước lên sân khấu, cầm cái micro. Nhưng khi ông đã cầm được cái micro rôi… thì đường ta, ta cứ đi. Ông Nói, ông Nói và ông Nói còn… dai và dài hơn cả thằng cha nói trước ông, đã từng bị ông… giận hờn khinh bỉ và trách móc! Ông mặc kệ hàng trăm khán giả đang ngồi ngáp dài ngáp ngắn, ngáp trẹo quai hàm và bị… liên hồi tra tấn bởi hai người cầm bút… nhưng khoái Nói. Hai vị này khoái Nói hơn khoái viết, nên… chưa từng có tác phẩm là chuyện không lấy gì làm ngạc nhiên! Và một trong nhiều hậu quả xảy ra cho đám khán thính giả ngoài cái vụ…Ngáp, là có bà nhà thơ nọ vì Ngáp nhiều quá, nước mắt nước mũi chàm ngoàm cho nên bà phải dụi… mắt, làm rớt cha nó một bên… lông mi giả. Thế là bà nhà thơ phải bò ra sàn của thính phòng để mà hòng kiếm lại hàng lông mi cong vút… đã ra đi không thèm hát tiếng tạ từ…”

Qua đoạn văn trích dẫn, người đọc mỉm cười đồng loã với cái cười hóm hỉnh của Thông Biện Tiên Sinh. Những hãy tưởng tượng, cũng với giọng văn châm biếm ấy mà đem gán vào tên tuổi của một người nào thì… nạn nhân đau thật đấy. Chẳng những ông giễu người khoái cầm micro, khán thính giả cũng bị ông đem ra làm trò cười luôn. Bà nhà thơ dụi mắt làm rớt một bên lông mi giả, phải bò ra sàn thính phòng kiếm lại. Chưa chắc sự kiện này là có thật. Tôi nghĩ, ông vẽ thêm một hình ảnh khôi hài để bài viết có thêm một nụ cười đầy màu sắc. Có lần tôi nói: “Đàn bà làm đẹp là vì bọn đàn ông chúng ta, sao ông lại chế giễu? Đáng lẽ ta phải cám ơn họ. Cám ơn em đã vì bọn đàn ông chúng tôi mà bỏ công điểm trang mặt hoa da phấn đẹp xinh. Cám ơn em đã ăn mặc hỡ hang khêu gợi cho bọn đàn ông chúng tôi nhìn ngắm thân thể ngọc ngà. Và sau cùng, xin được cám ơn em, những người mẹ của thế gian đã banh da xẻ thịt sinh ra bọn đàn ông chúng tôi.” Nghe tôi nói thế, Thông Biện Tiên Sinh cười ha hả: “Ông là loài chim biết hót tiếng du dương.” Qua cái cười, tôi thấy tâm ông không độc, nhưng sao ngòi bút của ông quá nhọn?

Trong một bài khác, ông viết: “Nhân vật Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng trong Nhan Sắc chưa chín. Thậm chí, có những sơ sót rất buồn cười. Ông… (tôi tự ý thay tên tác giả bằng 3 dấu chấm) đã cho nhân vật Từ Hải sinh quán ở Liêu Đông bên Tàu của ông nói… tiếng Tây giữa thời Gia Tĩnh Triều Minh: “Tửu bảo mang rượu ra, Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay áo quệt ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

-Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu-ly này được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.”

Ai cũng biết, chữ cu ly nhập cảng vào Việt Nam trong thời Pháp đô hộ nước ta. Cu-ly tức coulie của tiếng Pháp và Anh ngữ là coolie, nghĩa là người lao động, hèn kém. Không nên để cho một nhân vật thời Gia Tĩnh triều Minh (thế kỷ XV) bên Tàu nói tiếng Việt Nam lại chêm tiếng Tây.”

Thông Biện Tiên Sinh sàng lọc một bài văn dài, tìm ra được 2 chữ cu-ly. Cả bao gạo Nàng Thơm có một hạt sạn nhỏ, ít ai nhìn thấy, nhưng ông đã thấy. Trước tiên, ông đã tán tụng ngợi khen là tác phẩm hay. Tiếp theo sau, kiểu cách tri hô của ông làm hạt sạn bỗng lớn lên bằng viên đá cuội. Người đọc dễ bị mắc nghẹn mà quên đi giá trị một bài văn hay. Dẫu sao, đây cũng là đoạn văn “hiền” nhất của ông khi phát giác được một con sâu. Ông chỉ hơi buồn… cười nhẹ nhàng khi bắt gặp Từ Hải nói tiếng Tây.

Với bút hiệu Thông Biện Tiên Sinh, ông bàn chuyện phiếm sắc, nhọn, dí dỏm, thông minh. Giọng văn châm biếm têu tếu kèm theo nụ cười, nhưng sao “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”. Vậy mà khi trở lại với thơ, không ai còn nhận ra dấu vết một Thông Biện Tiên Sinh nữa. Ông đổi khác hoàn toàn. Ông là Trần Nghi Hoàng, một người làm thơ. Không biết giữa phê bình phiếm luận và làm thơ, bộ môn nào là sở trường, sở đoản của ông? Một đêm cuối đông, chúng tôi đứng hút thuốc, nhìn ra hàng cây tối ám sau nhà của một bạn thơ, tôi hỏi Trần Nghi Hoàng như thế. Ông không trả lời thẳng câu hỏi. Ông cho biết khi làm thơ, ông đắm chìm vào một thế giới khác, tâm hồn bay bổng tận đâu đâu. Như một kẻ mộng du đi giữa thực tại mà không biết những gì đang xảy ra chung quanh, trước mắt ông chỉ còn chữ nghĩa và ông say thơ như người say rượu. Ông viết miên man theo giòng cảm hứng, chỉ sợ nếu không ghi kịp sẽ mất đi cái giây phút nhập thần. Tôi nghĩ, có lẽ vì vậy nên ông có những bài thơ rất dài. Tiết tấu và ý nghĩa từng câu mới lạ. Nhân nói về Trần Nghi Hoàng mà lạm bàn thơ ông theo cảm nhận của tôi. Thử đọc một bài thơ của ông: trường giang

trường giang khởi mạch sóng chấp chóa

sông nước về riêng một chỗ ngồi

mấy trăm năm lỡ còn giây phút

sợi gió tà nghiêng giọng thổ ngơi

bằng lăng nở rộ ngòai phương tận

vạt lục bình trôi rộn tiếng cười

chợ nổi, đời chìm quên bến đậu

ai bán, ai mua cuộc lỗ lời

tháng sáu treo tim rao giữa chợ

đò chao sóng rượu nát lòng thơ

gọi tên cố quận máu réo rắt

tay ngửa chờ mưa ướt mặt người

chập chờn con bướm vờn thê thiết

cố ngược thời gian một điệu cười

còn chăng vạt áo lần chia biệt

hỏi ở lòng phai trận đổi đời

về đi, về đi sóng nước lỡ

tạn mặt ai về một cõi riêng

Nguồn cảm hứng của ông vẫn chảy theo giòng thất ngôn tứ tuyệt, nhưng cách dùng chữ mới mẻ. Ông tránh được cái sáo ngữ trong thơ, một thói quen ít người tránh khỏi. Đọc câu trước, không đoán được ý câu sau. Người đọc luôn bị bất ngờ. Tôi nghĩ, đó là lý do khiến thơ ông không bị nhàm chán.

Mục đích bài viết này không phải để bình luận khen chê thơ Trần Nghi Hoàng. Tôi không có khả năng làm chuyện đó. Và tôi cũng xác nhận thêm rằng, tôi không có khả năng lãnh hội, cảm xúc với những bài thơ tối nghĩa. Trên thi đàn có những người nổi tiếng, nhưng đọc thơ của họ, tôi không hiểu gì cả. Vì họ nổi tiếng nên có những nhà phê bình viết bài nhận định, giải thích rồi ngợi khen không tiếc lời. Lắm lúc tôi nghi ngờ cái đầu của tôi không hiểu nổi bài thơ, hoặc nhà phê bình kia cũng không hiểu như tôi, nhưng không dám nói ra. Nói ngược lại dư luận dễ bị “ăn đòn”. Chẳng hạn, ngày xưa Pham Quỳnh đã nói: “Truyện Kiều còn thì ngôn ngữ Việt Nam còn…”, một câu đao to búa lớn nghe thối không ngửi được. Đã có quá nhiều người ca tụng Truyện Kiều, Phạm Quỳnh còn bốc lên tận mây xanh. Một con nhạn lẻ loi nào dám nói ngược lại? Ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, sách vở giáo khoa đã dạy rằng Truyện Kiều là một áng văn chương tuyệt tác bậc nhất của Việt Nam, và Nguyễn Du là một thi hào vô địch của xứ ta. Học và nghe mãi điều đó thành nhập tâm. Ai nói khác, có cảm tưởng như mình bị xúc phạm. Giả sử, bây giờ có một người nào đó làm thơ theo kiểu:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

……….

Một trai con thứ rốt lòng,

Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.

Đây là thơ lục bát, nhưng rõ ràng là những câu “vè” rất dở. Nếu không phải là của Nguyễn Du mà đem gửi cho một tờ báo nào đó, chắc chắn sẽ bị ném vào sọt rác.

Nói hùa theo đa số là một thứ bệnh tâm lý. Cũng như thế, viết bài ca tụng người khác dể được ca tụng lại là một thứ bệnh phổ biến trên văn thi đàn hiện nay. Làm công việc sáng tác muốn độc giả biết đến mình, không có con đường nào khác hơn là còng lưng mà viết. Tác giả tự khẳng định mình quac phẩm. Mọi sự ca tụng, lăng xê đều vô ích.

Ông Trần Nghi Hoàng là chỗ thân tình với tôi, tính tình phóng khoáng pha thêm một chút khinh bạc với đời. Có lần tôi nói, tôi muốn viết cái nhìn của tôi đối với ông, chắc không giống như ông vẫn tự nghĩ về mình. Ông có buồn không? Trần Nghi Hoàng cười lớn, buồn quái gì? Âu, cũng là một cuộc chơi! Tiếng cười và câu nói nghe như Kim Thánh Thán ngày xưa ở bên Tàu sống lại. Âu, cũng là một cuộc chơi! Buồn quái gi?

Như đã nói, tôi không không có khả năng lãnh hội, cảm xúc với những bài thơ tối nghĩa. Và đây là một trong những bài, người đọc dễ bị tẩu hoả nhập ma: nữ chúa champa

cong cớn trong điều phức tạp nghiêng

hai trái tim lần hồi những nhịp hẫng

mũi tên Cupid bũa trận thiên la

võng nhiệt đới tấp nập đường sạn đạo

Ba Thục hân hoan sỏi đá

bốn bàn chân kiên trì bước thấp cao

bước vi bộ lăng ba

hoa trôi nước chảy

lên chót vót từng chập chùng đỉnh Hy Mã Lạp Sơn

vặn vẹo phần tín phục

khắc lên trời xanh những chữ núi, sông

ly rượu sóng sánh bầm máu hoạt

từ một tầng cao ốc chạm mây

bước chân tình dẫm nhàu Ba Thục Tứ Xuyên

hay vượt trường sơn Trung Việt

tu bổ Tháp Chàm

tấn phong Người làm nữ chúa Champa.

Tôi từng nói với một bạn làm thơ, lúc nào rỗi cũng có thể đọc văn. Nhưng với thơ, tôi chỉ đọc khi lòng yên tịnh, chung quanh đều vắng lặng. Mỗi lần, tôi chỉ đọc vài bài. Gặp bài hay, tôi dừng lại thật lâu. Không phải để suy nghĩ. Thơ mà suy nghĩ cái gì? Dừng lại để sự rung cảm của bài thơ đủ sức thẩm thấu vào tâm não, để lòng rung động theo cái rung động của tác giả khi sáng tác bài thơ. Cái đó, người ta gọi là truyền cảm. Vì thế, bất cứ ai làm thơ không bằng cảm xúc của lòng mình, chắc bài thơ ấy không truyền được điều gì cho người đọc. Tôi tin rằng Trần Nghi Hoàng viết bài thơ trên lúc ông đang đi vào cơn đồng thiếp. Tiếng nói của thần linh, người phàm không thể hiểu (bắt chước tựa đề thi phẩm của Du Tử Lê: ở chốn nhân gian không thể hiểu)

Tôi biết Trần Nghi Hoàng qua những bài đăng trên sách báo. Cách viết của ông làm tôi nghĩ đây là một gã khó tính và hay “móc lò” thiên hạ. Thế nhưng, lần đầu gặp ông tại nhà hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi, mọi thành kiến của tôi về ông thay đổi hoàn toàn. Ông cười nói cởi mở tự nhiên, thân thiện với mọi người. Trong giao tế, ông toát ra cái phóng khoáng, từng trải của kẻ lịch đời. Một điều làm tôi ngạc nhiên là trình độ hiểu biết của ông trên nhiều bộ môn nghệ thuặt. Ngồi nghe Trần Nghi Hoàng, nhà thơ Chân Phương và hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi bàn luận về hội hoạ, tôi không thể tham dự bất cứ một ý kiến gì. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, nhưng nghe cũng chưa chắc đủ trình độ lãnh hội. Mãi lâu sau, tình cờ tôi biết Trần Nghi Hoàng đã từng cầm cọ vẽ tranh triển lãm. Thiên hạ lắm kẻ đa tài. Nguyễn Trọng Khôi xuất sắc trong ngành hội hoạ, cũng từng sáng tác nhạc, ca hay, thỉnh thoảng lại viết truyện. Trần Nghi Hoàng làm thơ, viết văn, vẽ tranh. Không biết ông còn vói tay sang bộ môn nghệ thuật nào nữa. Lắm lúc vui miệng cũng muốn lạm bàn về đường nét tranh ông, lại chợt nhớ câu chuyện anh thợ đóng giày phê bình tranh. Chuyện bịa, có mục đích cảnh cáo những ai bình phẩm điều gì ngoài khả năng hiểu biết của mình. Có người sau khi xem tranh, nói với hoạ sĩ: “Tôi là thợ đóng giày. Tôi thấy ông vẽ chiếc giày trong bức tranh không đúng với thực tế.” Hoạ sĩ vui vẻ chấp nhận cái sai của mình và sửa lại theo ý của anh thợ đóng giày. Anh thợ đóng giày lấy thế làm tự đắc, tiếp tục bình phẩm: “Còn cái thắt lưng nữa, vẽ cũng không đúng.” Hoạ sĩ lắc đầu: “Tầm hiểu biết của anh là ở dưới bàn chân. Xin đừng trèo lên cao.”

Cuộc họp mặt ở nhà Nguyễn Trọng Khôi đêm đó, chủ nhà cho uống rượu vang. Lại nghe Trần Nghi Hoàng và Chân Phương luận về rượu vang. Xuất xứ của mỗi loại ở đâu. Rượu vang phải đựng trong cái thùng bằng gỗ sồi và thời gian ủ rượu bao lâu mới ngon. Tuỳ theo mỗi loại rượu mà kiểu cách uống khác nhau. Tôi cũng từng uống rượu, nhưng không hề có một chút kiến thức gì về rượu. Rượu ngon rượu dở, mắc tiền hay rẻ tiền, đối với tôi cũng vậy thôi. Thứ nào cũng đắng cay. Uống là vì vui với bạn bè, chấp nhận cơn say tới bến. Trần Nghi Hoàng xếp tôi vào loại “ngưu tửu”, không biết hưởng thức rượu ngon là gì. Ông nói, khi nhậu phải cho người ta nhìn thấy cái phong thái đường hoàng hào sảng của người uống rượu, đừng để người ta nhìn thấy tư cách bệ rạc của một thằng say. Nghề chơi cũng lắm công phu là vậy.

Một lần khác, gặp nhau ở nhà ông bạn Quảng Nam Phan Xuân Sinh, chúng tôi uống cognac. Và lần này tôi nhìn rõ về Trần Nghi Hoàng hơn chút nữa. Trong cuộc vui, ông thường khôi hài những câu rất tếu. Khôi hài mà người nghe không thể nín cười, không phải ai cũng làm được. Ai có tài khôi hài hợp thời đúng lúc, người ấy sở hữu một khối óc thông minh. Nhìn bề ngoài, ông là người vui nhộn như không biết buồn là gì. Nhưng tôi đọc ở đâu đó một ý nghĩa thâm trầm rằng, kẻ nào chưa trải qua đau khổ cuộc đời, kẻ đó chưa đủ khả năng tự giễu mình, giễu đời bằng nụ cười trào lộng. Tôi tự hỏi, có phải Trần Nghi Hoàng là một trong những tên hề buồn nhất thế gian? Nếu không phải bạn thâm giao, làm sao thấu được u tình trong tim gan người khác? Vậy mà có lần, bất chợt tôi gặp nơi ông một hình ảnh tương phản với một Trần Nghi Hoàng thường ngày. Ông đứng lặng trên một bờ hồ ở Texas, nhìn về xa xa nơi có một cù lao nhỏ đìu hiu. Ánh mặt trời chiếu vào ông, in cái dáng chênh vênh lên nền phông có những rặng cây xanh phía bên kia bờ hồ. Giờ phút đó, ông hiện thân như một nỗi cô độc buồn bã dị thường. Có phải đó là con người thật của ông? Nhìn ông, tự nhiên tôi liên tưởng đến hai câu thơ của Phan Khôi: Nỗi sầu như tóc bạc. Cứ cắt lại dài ra. Có phải cùng tâm trạng với Phan Khôi mà Trần Nghi Hoàng để tóc dài phủ quá mang tai? Ai mà biết được. Trong giao tế hàng ngày, con người thường giấu mình sau chiếc mặt nạ. Vậy đâu là mặt thật của ông? Một gã ngang tàng, cười vang trong cuộc rượu, hay một người khép kín cô đơn? Ông không hề tâm sự với ai về đời mình. Nhưng ai đã từng giao tiếp với ông đều thấy ông là người nặng ân tình. Ông cần có bạn. Ông nói, uống ruợu chỉ là cái cớ để có bạn ngồi với mình. Thông thường, kẻ cô đơn thống khổ nào cũng khao khát một tình cảm ấm áp ấp ủ đời mìnnh. Chị Nguyễn Thị Thảo An, trong một bài viết của mình có nói, “một đàn bà bằng mười lò sưởi”. Cái lò sưởi mà chị Thảo An nói đó, thuộc về vật lý. Còn về tâm lý, Trần Nghi Hoàng đã tìm ra cái lò sưởi của mình chưa?

Kẻ cô đơn là kẻ đi giữa cuộc đời như đi giữa hư vô. Người cầm bút sáng tác, hình như lúc nào cũng cảm thấy khoảng trống hư vô phía trước. Chẳng biết có phải đó là Hố Thẳm Tư Tưởng mà ông Phạm Công Thiện từng nói hay không. Trong thơ Trần Nghi Hoàng, tôi thấy ông tự ném mình vào nỗi hư vô, và khắc khoải đi tìm lời giải đáp cho ẩn số cuộc đời trong vô vọng. Trên đường đi tìm, ông trải nghiệm và làm nên tác phẩm.

Tác phẩm có tồn tại hay không, còn phải qua thử thách của thời gian và gạn lọc của người đời. Một lời bình phẩm khen chê nhất thời cũng bấp bênh như chiếc thuyền con trên dòng nước lớn. Vào khoảng thập niên 60, tiểu thuyết “Yêu” của Chu Tử rầm rộ một thời. Thậm chí, trong quán cà phê, trong tiệm hớt tóc, người ta cũng say mê đọc “Yêu” và khen tặng hết lời. Nhưng chỉ 10 năm sau đó, không còn ai nhắc nữa. Hiện tượng đào thải trong văn học. Ngược lại, cũng có những tác giả lúc đương thời, không ai chú ý. Nhưng sau một thời gian dài, có khi họ không còn trên cõi đời nữa, tác phẩm của họ được nhìn lại và được đặt vào một vị trí xứng đáng với giá trị của nó. Đó là Edgar Allan Poe. Khi ông còn sống, hầu hết những bản thảo của ông đã từng bị những nhà xuất bản từ chối hoặc vất vào sọt rác. Lúc ông mất đi, những gì ông để lại sau này có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học hiện đại của Hoa Kỳ. Chẳng những thế, ảnh hưởng của nó đến nền văn học Âu Châu xem ra còn lớn hơn ở Mỹ nữa. Nhắc đến hai trường hợp khác biệt để nói về Trần Nghi Hoàng. Ngồi quanh chiếc chiếu văn nghệ, ông không có mặt. Người ta không nhắc tên ông như một cố tình quên lãng. Hậu quả này, một phần cũng do những bài viết có nhiều gai nhọn của ông. Một phần khác, bắt nguồn từ khi ông chủ trương tờ Văn Uyển, đăng những bài có tính cách chỉ trích, đôi khi quá đà làm mất lòng người khác. Dù bài viết ấy không phải của ông, nhưng đã chọn đăng thì người chủ trương chịu trách nhiệm. Người ta không nhắc đến ông, không có nghĩa rằng ông không hiện diện bằng những tác phẩm của mình. Trên lãnh vực văn học, không có cái túi nào bọc nổi cây kim, nếu quả thực cây kim ấy đủ khả năng sắc bén để ló ra ngoài cái túi.

Nhiều năm trước, tôi đọc một loạt bài có tính cách tạp ghi, trong đó tác giả thường nhắc về Trần Nghi Hoàng như một sự đề cao, tâng bốc. Nhưng đối với người đọc, tác dụng hoàn toàn ngược lại. Qua đó, tôi thấy ông là kẻ hợm mình. Có thể tác giả vô tình làm hỏng hình ảnh của ông. Cũng có thể qua lăng kính của tôi, cái nhìn về ông bị lệch lạc. Cùng một sự vật mà dưới nhãn quan mỗi người mỗi khác. Nhận xét về con người lại càng phức tạp hơn. Nếu không “muôn vật cùng ta là một” thì làm sao thấu được bản thể sự vật? Tôi hỏi chị Hoàng Thị Bích Ti, người đàn bà đi bên cạnh đời ông, chị thấy ông Hoàng là người thế nào? Chị bảo, mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm (ND). Tôi nói, tôi không hiểu ý chị. Chị cười rằng, tôi thấy ông Hoàng là người thế nào thì chị cũng thấy thế ấy. Một câu trả lời “huề vốn”, coi như không trả lời gì cả. Tôi lại hỏi, ông có đặc điểm gì làm chị mến thích? Chị bảo, chị biết ông qua điện thoại và những bài viết, nhưng lần đầu gặp nhau, chị như bị cuốn hút vì cách nói chuyện của ông ấy. Tôi hỏi, có phải vì ông nói chuyện hay và có duyên? Chị bảo, không phải vậy, con người ông không giống ai. Chính cái không giống ai đó, làm thành một Trần Nghi Hoàng. Tâm lý kỳ cục này, cũng thường thấy ở nhiều trường hợp. Đối với phụ nữ, tất cả những người đàn ông mà họ không yêu đều giống nhau, còn người mà họ yêu thì lại chẳng giống ai. Cái chẳng giống ai, chính là thần thái riêng của từng người.

Tôi kết thúc bài viết này bằng một câu chuyện về Trang Tử. Thầy Trang và thầy Huệ đứng chơi trên cầu. Thầy Trang nói: “Kìa đàn cá lượn lờ bơi chơi. Đàn cá mới sướng chứ.” Thầy Hiệ hỏi: “Ông không phải cá, sao biết cá sướng?” Thầy Trang đáp: “Ông không phải tôi, sao biết tôi không biết cá sướng?” Thầy Hiệ nói: “Tôi không phải ông, không biết ông đã đành. Nhưng ông cũng không phải cá thì hẳn cũng không biết cá sướng?” (Theo bản dịch Nhượng Tống). Tôi cũng vậy, chẳng hiểu chi về nỗi đời sâu thẳm của Trần Nghi Hoàng. Tôi chỉ nhìn cái nhân dáng bề ngoài mà vẽ lại. Vẽ ma thì dễ. Vẽ người chắc chi đã giống?

Lâm Chương

Bài đã đăng của Lâm Chương

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Ban biên tập Trên Kệ Sách dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập trước khi phổ biến.