Tạp chí Người Viễn Xứ phỏng vấn Cổ Ngư
- Cổ Ngư: Đêm Nghi Ngại
- đọc Cổ Ngư qua Đêm Nghi Ngại
- Tạp chí Người Viễn Xứ phỏng vấn Cổ Ngư
thực hiện: Lý Đợi
nguồn: http://nguoivienxu.vietnamnet.vn
_ Anh rời VN từ năm nào? Đi theo diện nào? Anh có còn nhớ rõ cái cảm giác lúc đó không?
_ Tại sao anh chọn Pháp, mà không phải là Mĩ, như phần đông người Việt khác?
_ Tại Pháp, để làm được một kĩ sư điện toán, những yêu cầu cụ thể là gì?
Sau gần 8 năm chờ đợi để có được giấy xuất cảnh từ phiá Việt Nam và giấy nhập cảnh từ phiá Pháp, tôi cùng gia đình được may mắn rời Sài Gòn bằng đường hàng không để đoàn tụ với đại gia đình bên ngoại, đã sống tại Pháp từ nhiều năm trước. Ngày rời Việt Nam, tôi biết mình đã khép lại một phần đời, để bắt đầu một cuộc sống mới, lạ. Ðến xứ người, còn đầy bỡ ngỡ, đã phải lao đầu vào học, học để cướp lại thời gian đã mất, học để có được mảnh bằng nuôi thân, nuôi gia đình. Học, để ít ra, được bằng người. Ở đâu cũng vậy, nghề nào cũng thế, phải tinh, phải thông, mới mong thành công.
_ Một ngày bình thường của anh tại Pháp diễn ra như thế nào?
Một ngày bình thường của tôi, một người bình thường sống tại Paris, diễn ra khá… bình thường, cũng tương tự như những gì đã viết ra trong truyện ngắn “Luẩn quẩn boulot-métro-dodo”. Dù vậy, mỗi ngày, chỉ với những chuyện xảy ra ở sở, ở nhà và ở đoạn đường xe điện ngầm nối hai đầu mút ấy, cũng đã đủ ngất ngư, đủ để thấm câu hát “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rồi!
_ Sau 1 năm về VN làm kĩ sư đại diện trong ngành điện toán, anh thấy môi trường và điều kiện làm việc ở đây như thế nào?
_ Tại sao anh lại đi đến quyết định này? Công việc cụ thể của anh là gì?
_ Anh thấy các kĩ sư VN đang cộng tác làm việc với anh như thế nào? Nhưng ưu trội và vướng mắc của họ?
Sau nhiều năm chuẩn bị, chi nhánh cuả hãng tôi (trụ sở đặt tại Paris, Pháp) thực sự đi vào hoạt động từ hai năm nay. Tôi về Sài Gòn để phụ trách việc quản lý những dự án của Pháp, nhất là việc điều-phối, giúp cho công việc tiến hành đồng bộ giữa hai nhóm đồng nghiệp ở Paris và Sài Gòn.
Ngoài thời gian trước và sau giờ làm việc, từ 8 giờ 30 sáng đến 8 giờ 30 tối, tôi có cảm tưởng đang ngồi trong phòng làm việc đặt tại Pháp, vì công việc, hồ sơ, tài liệu, điện thoại, e-mail liên lạc đều hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Còn với các đồng nghiệp cùng phòng, các kỹ sư trẻ, tôi đã có thói quen nói chuyện bằng tiếng Việt với họ từ lúc còn làm việc chung ở Paris. Ðó là những người trên dưới 30 tuổi, kiến thức chuyên môn cao, ngoại ngữ (anh, pháp văn) khá và đã có kinh nghiệm làm việc trong nhiều dự án tại Pháp. Trở về Việt Nam, họ được trang bị thêm những hiểu biết về phương thức làm việc và nhất là cách nhận xét, đánh giá một vấn đề dưới nhiều góc cạnh khác nhau, với một tinh thần cởi mở, cầu tiến và cầu toàn.
_ Cảm giác của anh như thế nào khi tập truyện “Đêm nghi ngại” của anh vừa được Nxb Hội nhà văn xuất bản?
_ Việc xuất bản ở VN có cho anh thấy ý nghĩa hay tác động khác với xuất bản ở những nơi khác như Pháp, Mĩ, Na Uy, Úc, Đức…?
_ Tại sao tập truyện lại có tên “Đêm nghi ngại” ? Và tại sao anh lại chọn thể loại truyện ngắn, mà không phải những thể loại khác?
Một trong những mối ưu tư lớn của người viết hải ngoại là làm sao sách của họ in ra đến được tay người đọc, vì người Việt ở rải rác khắp nơi, và không phải ở nơi nào có người Việt, cũng có thể tìm được một nhà sách hay một quầy tạp hoá nhận bán sách báo Việt. Chuyện gửi sách, báo qua đường bưu điện (hay mua sách qua internet) cũng gặp khó khăn do chi phí gửi khá cao. Do hoàn cảnh đặc biệt, sách, báo Việt ở hải ngoại hoàn toàn không qua bất cứ một sự kiểm duyệt nào, ngoài sự đánh giá của người đọc. Ðiều này khác so với sách viết bằng tiếng bản xứ, xuất bản tại những nơi có người Việt sinh sống (thí dụ: sách viết bằng tiếng Pháp, xin giấy phép xuất bản tại Pháp) hoặc sách in tại Việt Nam.
Tất cả 19 truyện ngắn có mặt trong tập truyện “Ðêm nghi ngại” đều đã được giới thiệu đến người đọc Việt Nam tại hải ngoại qua các tạp chí văn học, rải rác suốt mười lăm năm qua. Lần này, gom vào một tập truyện, tôi mong mỏi đó sẽ là chiếc cầu nối gần hơn tâm tình, cảm nhận của người Việt trong và ngoài nước. Việc gom nhiều truyện ngắn viết trong nhiều năm, với nhiều chủ đề, nhiều phong cách cũng khiến tôi phải đắn đo trong việc chọn lựa, sắp xếp.
Cuối cùng, tôi tìm được 3 đề tài chính, có thể làm nền cho tất cả các truyện ngắn, để từ đó, sẽ mời độc giả bước vào không gian của tập truyện “Ðêm nghi ngại” mà không bị hụt hẫng : tâm tình di dân – tình yêu – cảnh thổ, mà tôi đã tạm nhân cách hoá thành 3 “nhân vật” Dế mèn – Cupidon, thần ái tình – Paris. Ba nhân vật này đồng thời hội tụ rõ nét nhất trong truyện ngắn “Ðêm nghi ngại”, cũng là tựa đề của cả tập truyện.
_ Trong làng văn VN nói chung [không kể trong hay ngoài nước], những tác giả truyện ngắn nào được anh mến mộ? Đánh giá cao? Hoặc có nhiều quan tâm, để ý và cho rằng có triển vọng trong tương lai?
_ Còn về văn chương Việt nói chung, anh quan tâm những điều gì?
_ Theo anh, những vấn đề nào của văn chương Việt là cần đặt ra ngay bây giờ? Những dự phóng nào là đáng khuyến khích?
Tôi xin trích lại đây câu trả lời trong một bài phỏng vấn của tờ báo liên mạng Văn Nghệ Ngàn Phương, đầu năm 2002 : “… Những năm sau này, tôi thực sự thích thú (tuy không hoàn toàn cùng quan điểm) với những bài viết, những đề nghị của các anh Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Trung Hối về việc đổi mới văn chương Việt Nam, cũng như những truyện dài, ngắn độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Trần Thị NgH, Miêng, Mai Ninh, Ðỗ Kh., Nam Dao, Ðinh Linh…” Ở một đoạn khác, tôi đã nhắc đến những người viết dưới 40 tuổi (tính đến năm 2002) mà tôi yêu thích : Trần Vũ, Y Chi, Linda Lê, Trần Quý Ðức, Hoàng Mai Ðạt, Lê Minh Hà… Ba năm trở lại đây, có sự xuất hiện hàng loạt của những người viết gốc Việt nhưng viết thẳng bằng ngôn ngữ của xứ sở nơi họ sinh sống và gây tiếng vang trên văn đàn “chính thống”, thí dụ Monique Truong ở Hoa Kỳ, Kim Doan tại Pháp. Ở Việt Nam, ngoài “hiện tượng văn học” Ðỗ Hoàng Diệu với tác phẩm “Bóng đè” đang là đề tài tranh cãi trên báo chí và các diễn đàn văn học từ mấy tháng nay, những truyện ngắn của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Tự Lập, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Phan Triều Hải, Nguyễn Việt Hà, Bùi Hoằng Vị, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vương Văn Quang… với cách dựng truyện cùng phần nội dung phong phú, đa dạng đã giúp tôi tin tưởng vào một hướng phát triển mới cho văn học Việt Nam trong những năm sắp đến.
Trong “Bài nghị luận đầu năm lẻ một”, tôi đã đưa ý kiến :
“… Xem ra thì người đọc, tây ta nói chung, có vẻ ngại với những gì phức tạp, khó hiểu, khác đời, lập dị. Người Pháp, dù thế nào, cũng còn ít nhiều máu phiêu lưu, vẫn chịu khó tìm hiểu tác giả mới, cách viết lạ. Người Việt, ngay cả khi sống ở hải ngoại, suy nghĩ vẫn còn bị luỹ tre làng vây kín, tư tưởng vẫn còn bị cánh cổng làng ngăn chặn, yên phận thủ thường hơn, ai sao mình vậy, quen hơi bén tiếng dù gì cũng vẫn dễ chịu hơn lạ nước lạ cái, ngại sóng gió, ngại biến động, ngại đổi thay, ngại phát minh, sáng tạo. Giông giống, quen quen, thuận tai, hợp mắt, ô-kê, xà va, đắc-co, khỏi cần suy nghĩ nhiều chi cho mệt !…”
“…Thế còn tôi? Tôi viết văn, làm thơ cho ai ? Hình như ngay từ đầu, tình yêu và niềm say mê của tôi dành cho chuyện viết văn, làm thơ, đặt nhạc, vẽ tranh, chụp ảnh, đóng kịch… đều ngang bằng nhau, cái gì cũng thích, nên cái gì cũng làng nhàng, chẳng đâu vào đâu! Tất cả những gì tôi làm, đều có một đối tượng đầu tiên: cái TÔI đáng yêu, cái TÔI đáng ghét! Tôi có hứng, tôi thích chí, tôi làm. Làm xong, ưng ý, tôi giữ lại, không hài lòng, tôi vứt bỏ. Không ai ép, không ai buộc, không ai de doạ, không ai bán mua, đổi chác. Cái vòng tròn đầu tiên, mắt bão, lỗ rốn, người thưởng thức đầu tiên, chính là người tạo tác. Người ta viết nhật ký để ai đọc, nếu không phải để mình tự nhận ra chính mình? Sáng tác, đối với tôi, cũng là một cách để nhận ra chính mình. Ðôi khi ngẫm lại một đoạn văn, một bài thơ, một bức phác hoạ đã lâu không động đến, tôi chợt nhớ lại những cảm nhận đã thấm, những suy nghĩ đã từng, những rung động đã có về bản thân, về người đối diện, về đám đông lao xao chung quanh, về cuộc sống ở một nơi chốn nhất định trong một thời điểm nhất định. Bằng sáng tác, tôi tự soi gương và biết mình hiện hữu, biết mình từng có và mất những gì, mơ ước và chối bỏ những gì. Bằng sáng tác, tôi muốn bày tỏ, muốn san sẻ “một phần của tôi” đến người chung quanh, đồng thời, hấp thụ trở lại, tập sống, suy nghĩ, hành động như một hoặc nhiều người khác. Vì vậy, khi đối tượng đầu tiên, bản thân người sáng tác, có thực sự yêu mến và rung động với tác phẩm, thì may ra, tấm chân tình đó mới lan toả được tới những người chung quanh, tác phẩm mới tìm được mối tương giao với người thưởng ngoạn. Thế nhưng, chỉ có rung cảm nghệ thuật và tấm chân tình không thôi, hình như chưa đủ, hình như chỉ là sự tự phát, với khuôn dáng trong gương nhìn mãi cũng nhàm, dù ai ai cũng mang trong người ít nhiều bóng hình cuả Narcisse. Người sáng tác, khó nhất là biết tự vượt qua chính mình. Và chỉ có cách duy nhất để có thể thực hiện được điều này là phải học hỏi không ngừng những kỹ thuật, phát kiến mới và không ngại đem áp dụng, thử nghiệm vào tác phẩm cuả mình. Nếu những kỹ thuật, phát kiến mới ấy lại do chính bản thân sáng tạo thì còn gì tuyệt vời hơn nưã ! Ngạn ngữ Trung Hoa cách đây ngàn năm đã có câu: “Sự học như con thuyền ngược nước, không tiến, ắt lùi”, nay, nếu còn không học hỏi, sự thể sẽ trôi dạt về đâu? Mấy năm trở lại đây, các bài viết của vài nhà nghiên cứu phê bình văn học đăng trên một số tạp chí văn học đã thực sự khuấy động sự yên tĩnh cuả những người viết Việt già nua. “Già nua” ở đây không có quan hệ với số tuổi đời, mà ở cách suy nghĩ và lối sáng tác. Làng văn Việt, hay Cộng hoà văn chương Việt bắt đầu có những xáo trộn, một dấu hiệu đáng mừng, vì bất cứ ở đâu trong thời đại này, một xã hội khép kín, tĩnh đọng là một xã hội có vẻ yên bình, nhưng chắc chắn không lành mạnh. Người ta có thể đi ở ẩn trên Hy-mã-lạp-sơn, hay sống đơn sơ giưã rừng rậm Amazone trong nhiều trăm năm, nhưng một khi đã quên liên lạc bằng tín hiệu khói, tín hiệu âm thanh hay bằng cách bắn mũi tên đồng vào búi tó sau gáy để truyền tin, một khi đã biết dán con tem gửi lá thư cho gia đình, đã biết nhấc điện thoại thăm hỏi bạn bè, thì không thể cứ khư khư nhất định ra bưu điện đánh điện tín trong khi mọi người chung quanh ào ào sử dụng điện thư. Dĩ nhiên, sẽ có ai đó kêu lên: “Ðâu phải cái mới nào cũng hay, và chẳng lẽ, cứ phải suốt đời nhắm mắt nhắm mũi chạy theo cái mới, hay sao?” Xin hãy chấp nhận cái mới trước đã, xin hãy thử nghiệm trước đã, rồi sự sàng lọc cuả thời gian và đám đông (chưa chắc đã là sự lưạ chọn hợp lý) sẽ quyết định sau. Còn trong mười ngàn cái mới, chỉ chọn một vài, sao cho phù hợp với cá tính, sở thích và khả năng cuả mình, đã không phải là chuyện dễ dàng, đã được xem là có đầu óc cấp tiến, thì đừng vì dị ứng mà chùn chân, không thử bước thêm một bước về phía trước. Nhưng, bước về phiá trước, không có nghiã là chối từ, xoá bỏ những gì đã để lại sau lưng. Có ai ngợi khen “thành tích” đốt phá nhà thờ, giết hại tu sĩ cuả Cách mạng 1789 Pháp hay sự huỷ hoại di tích lịch sử, đền chùa miếu mạo của Cách mạng Văn hoá Trung Hoa đâu? Một hoạ tiết trống đồng rực rỡ trên mẫu áo dài collection 2000 hay một bài thơ Haiku mang đậm tâm tình cuả thế kỷ hai mươi mốt, tại sao không?”
_ Văn học, hiển nhiên rồi, luôn đi kèm theo các vấn đề của xã hội và chính trị. Nhưng nếu bỏ qua những điều ấy, theo anh, văn học là gì?
_ Thế nào là một tác phẩm thành công? Một tác giả thành công?
Bao nhiêu giấy mực đã đổ ra cho những cuộc tranh luận về “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”, “văn chương tháp ngà” hay “văn chương dấn thân”. Cách đây không lâu, với bài viết “Nhà văn thế hệ sau chiến tranh và ông vua cởi truồng”, Phan Nhiên Hạo đã đặt lại vấn đề này với những người viết ở độ tuổi dưới 50. Nhưng, dù thuộc thể loại nào đi chăng nữa, một tác phẩm văn chương không thể nào không đề cập đến các vấn để xã hội, nhân sinh, hoặc dưới góc cạnh này, hoặc dưới góc cạnh khác. Hãy đọc trường thiên anh hùng ca “Iliade” của Hy Lạp cổ đại, truyện ma quái “Liêu trai chí dị” của Trung Hoa trung đại hay “Harry Potter”, sách thiếu nhi của thế giới thời toàn cầu hóa hiện đại rồi sẽ thấy. Tôi nghĩ, sẽ không gọi là tác phẩm văn học, nếu bài viết không ẩn chứa trong nó ít nhất một vấn đề của cuộc sống.
Theo ý riêng của tôi, một tác phẩm thành công là một tác phẩm có được độc giả thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, nhiều quan điểm khác nhau. Một tác giả thành công? Khi người đó có ít nhất một tác phẩm thành công!
_ Ngoài vai trò của một tác giả, giữa dịch thuật, biên tập, biên khảo… cái nào làm anh thấy phấn khích nhất?
_ Kế hoạch văn học trong tương lai gần của anh là gì?
Mỗi thể loại, đối với tôi, là một sự thách thức, đồng thời, cũng là một mảnh đất để có thể thể hiện suy nghĩ, ý tưởng, tình cảm của mình theo một bút pháp riêng, phù hợp với thể loại đó. Có lúc, tôi đã ôm đồm thực hiện hai, ba thứ cùng một lúc, may mà chưa… nổ tung vì quá phấn khích!
Tôi đang dọ dẫm bước vào lãnh vực truyện dài, cũng để thử sức mình, xem có làm nên trò trống gì không.
Người thực hiện
Lý Đợi
Tiểu sử tác giả
Sinh năm 1963, tại SàiGòn.
Làm việc trong ngành điện toán tại Paris (Pháp).
Có truyện ngắn, thơ, biên khảo, tuỳ bút đăng trên các tạp chí văn học và báo liên mạng cuả cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ, Pháp, Ðức, Na Uy, Úc : Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Văn Tuyển, Phố Văn, Chủ Ðề, Việt, Thế Kỷ 21, Gió Văn, Âu Du, Nhân Bản, Ðọc & Viết, Talawas, Suối Nguồn, Hồn Quê, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Nghệ Ngàn Phương, Quyên Book…
Góp truyện trong “Tuyển tập truyện ngắn 14 tác giả”, Văn Tuyển xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000.
Một số nhạc phẩm đã được thu âm trong các CD : “Vực Sâu Hạnh Phúc” (1998), “Dễ Thương” (1999), “Xuân Tôi” (2000), “K. Khúc Cuả Lê 2″ (2001), “K. Khúc Cuả Lê 3″ (2002), “Nối Một Giòng Thơ” (2002), “Cơn Mơ Gió Thoảng” (2003), “Mộng” (2005).
Bài đã đăng của Lý Đợi
- Tạp chí Người Viễn Xứ phỏng vấn Cổ Ngư - 10.07.2008

Phần Góp Ý/Bình Luận