Đặng Thơ Thơ: Phòng Triển Lãm Mùa Đông
- Đặng Thơ Thơ: Phòng Triển Lãm Mùa Đông
Nhìn lại Phòng Triển Lãm Mùa Đông của Đặng Thơ Thơ
Bùi Vĩnh Phúc
Phòng Triển Lãm Mùa Đông của Thơ Thơ gồm có 14 bài viết, với những dạng thể và những chủ đề khác nhau. Dù sao, nhìn chung, xét về mặt dạng thể, có thể nói chúng được tạo thành bởi những truyện ngắn và tùy bút. Có những bài lại có dáng nét của một sự hòa trộn, xoắn xít, bồng bế của cả hai thể loại này. Nó giống như một sự hòa trộn giữa mơ và thực, giữa thiên nhiên bên ngoài và thế giới nội tâm bên trong của các nhân vật (hay của chính tác giả?) Nó giống như những âm thanh, những tiếng gọi hay những bóng nắng chập chờn ẩn hiện giữa đời, trong những thời khắc lạ lùng của cuộc sống, kêu với và vẫy gọi con người giữa cuộc trần gian này về một vùng, một khoảng thời gian, không gian của một thế giới khác… Về mặt đề tài, Thơ Thơ giới thiệu với người đọc nhiều thế giới, nhiều tâm tình khác nhau. Có thế giới của người già, có thế giới của con trẻ. Có thế giới của những người thương yêu nhau, và cũng có thế giới của những con người lạ mặt (nhưng cuộc sống đã đẩy họ chạm mặt nhau; rồi mỗi người, trong những nhịp quay vô tình của cuộc đời, lại tách ra khỏi nhau để đi mãi vào những ngõ ngách xa vời của trần gian). Truyện của Thơ Thơ cũng cho thấy có những thế giới của hồn nhiên và cũng có những thế giới của khổ đau, thiết tha sâu lắng. Có những thế giới nằm trong hiện thực của đời sống nhưng lại có những nét rất ảo trong chính cái cấu trúc của hiện thực (structure of reality) ấy. Có thế giới xuất hiện trong những giấc mơ, nhưng, thật ra, nếu được nhìn ngắm kỹ, chính những giấc mơ ấy lại chứa đựng trong nó những dấu chỉ, những yếu tố rất thật của hiện thực con người. Có truyện Thơ Thơ đưa người đọc vào một thế giới tưởng như là viễn tưởng, nhưng, cẩn thận, cái thế giới ấy có thể sẽ được hiện thực hóa bất cứ lúc nào trong cuộc sống thay đổi lạ lùng từng giây từng phút này, nhất là khi cuộc sống ấy được sự trợ giúp của khoa học và kỹ thuật hiện đại, với những vấn đề mang màu sắc tâm lý và xã hội, khiến nó không còn tĩnh tại và không còn để cho con người nắm bắt một cách dễ dàng như trước đây nữa.
Tất cả những điều mà tôi vừa viết, để thử đưa ra một cái nhìn về thế giới của Phòng Triển Lãm Mùa Đông, hay, đúng hơn, về thế giới của Thơ Thơ, có thể được làm cho rõ ràng hơn bằng cách gắn bó những phát biểu ấy với những chi tiết hay tựa đề của những bài viết khác nhau trong tập sách. Nhưng tôi không muốn làm mất sự hứng thú của người đọc. Tôi muốn để cho người đọc tự mình đi vào Phòng triển lãm mùa đông của tác giả để tìm ra những thích thú cho riêng mình. Dù sao, ở đây, như một người được đọc trước cuốn sách, tôi muốn nói thêm một số điều mà, trong vai trò của người đọc và trong sự cảm nhận, thẩm thức của riêng mình, tôi muốn chia sẻ với mọi người.
Trước hết, tôi thấy Thơ Thơ là một người có một sự nhạy cảm đặc biệt trước thiên nhiên, nói riêng, và trước ngoại giới, nói chung. Tác giả phải là một người rất yêu thiên nhiên và luôn mở rộng tâm hồn mình trước ngoại giới, để nó sẵn sàng rung động như một sợi tơ trong nắng hay như một sợi dây đàn trước gió, mới có thể cảm nhận được những điều thiết tha qua mầu hoa lê trắng. Mầu hoa trắng, và hương thơm của những chùm hoa đong đưa, và tình bà cháu, và những ký ức, và những huyền thoại tuổi thơ, cứ gắn bó, quấn quyện vào nhau:
“Trong những ngày cuối đó, mùa xuân vẫn còn rất đẹp, rất rực rỡ ngoài khung cửa. Cây lê trắng xóa, thả vào gió cả ngàn cánh hoa mong manh lả tả, mùi hương thật nhẹ nhưng lại đọng rất lâu trong ký ức. Những lúc không bị cơn đau hành hạ, bà ngồi với một chồng gối sau lưng, mỏng hơn tờ giấy (…) (Mùa xuân trắng, tr. 13)
Vẫn tấm màn cũ đã phai mầu, kéo về một bên cho ánh nắng lùa vào—như ngày bà vẫn còn. Ánh nắng lung linh và vòm lá vẫn xanh như màu xanh tôi còn giữ trong ký ức (…) Cây lê cổ thụ đang thả đầy hoa trắng ngoài kia, màu trắng non mong manh và thanh thoát cứ lay động không ngừng, tưởng chừng như gió đang thổi lên từ đó, không có gì thay đổi cả, dù đây là lần đầu tôi phải khóc khi nhìn thấy nó. Những chùm hoa trắng làm tôi khóc, nắng gió đổ xuống chung quanh làm tôi khóc, cả một tuổi thơ và những huyền thoại trở về làm tôi khóc.”(Mùa xuân trắng, tr. 15)
Tôi đã nói người viết là một sợi dây đàn trước gió. Có lẽ nên nói thêm, đó là một sợi dây đàn có rất nhiều suy nghĩ trong đầu:
“Một ngày mùa hè của tôi bắt đầu từ bảy giờ sáng, pha một ấm trà nhỏ, ngắm một cành lan, trò chuyện với nó bằng những ý tưởng của mình” (Vườn lan, tr. 17)
Từ sự trò chuyện đó, tác giả nhận ra rằng “mỗi bông hoa là một nhân cách riêng:” “Tôi còn nhớ một giò Kim Điệp vàng rực mà mỗi lần gió thoảng lại chuyển mình ra bướm. Một cành lan khác cũng làm tôi say mê rất lâu. Nó như những cô gái mặc áo đầm trắng viền ren và nơ hồng, đứng trên nền ngôi sao vàng nhạt.”
Và sự khắc họa tinh tế mầu sắc và dáng nét của hoa:
“… một cành Vanda bướm, đẹp như mới gỡ ra khỏi một bức tranh. Những chiếc lá hình nan quạt sắc sảo cứng cáp như nét vẽ, những cọng rễ trắng xanh buông rủ vướng vít ngoài khung gỗ. (…) Mầu của hoa kỳ lạ lắm, có khi tím ngát, có lúc biếc xanh, tùy vào ánh sáng trong vườn, lúc nắng lên hay chiều xuống. Nó bí ẩn như màu rừng thẳm trên những viên đá ngoài bờ suối, có bóng cây lá rong rêu thấm vào.”(Vườn lan, tr. 22)
Thơ Thơ có một sự tưởng tượng thật sinh động. Chẳng hạn như sự tưởng tượng của một cô bé khi đứng nhìn bố mặc quần áo trước gương:
“Ba đã mặc xong bộ complet xám và đang đứng trước gương thắt cà vạt. Đó là một tấm gương lớn, khung gỗ mun có chạm trổ hoa văn. Ba vừa thắt nút, chỉnh lại cổ áo, vừa trả lời những câu hỏi của me—khi ấy ngồi khuất ở một góc phòng. Có vẻ như ba đang nói với người ở trong gương. Từ chỗ đang đứng, tôi có thể nhìn thấy rõ cả hai người đàn ông, với hai cái miệng mấp máy. Tự dưng tôi có ý nghĩ: Nói chuyện xong một người sẽ ra đi, còn người kia ở lại.” (Ba sẽ về ngày mai, tr. 73)
Nhiều lúc, những sự tưởng tượng của tác giả lại thấm đẫm rất nhiều chất thơ:
“Anh kéo tôi đứng dậy. Tôi nhìn lại chỗ vừa ngồi, những chiếc ghế đã trở thành những cái ly pha lê hứng đầy bóng tối. May thật, nếu ngồi mãi hẳn sẽ tan nhòa vào một thứ gì đang vây bủa chung quanh”(Lời chia tay cuối, tr. 96)
“Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm. (…) Mùa hè ở khắp nơi trong nhà, chỗ nào cũng có những trái táo lăn lóc trên nền khăn trải bàn vui tươi bằng vải thô, bình lọ cắm đơn sơ hoa lá hái trong vườn. Một quả táo được cất giữ rất lâu thành ra rượu và vẻ đẹp, trải đầy những ý tưởng của Cézanne lên bàn, từ đó mùa hè trở nên bay bổng thênh thang.” (Mùa hè…, từng đoạn ngắn, tr. 37-38)
Thật là một sự tưởng tượng vừa thơ, vừa thơm, lại vừa… rất lập thể. Trong sự tưởng tượng ấy, người ta ngửi thấy mùi thơm của hoa lá và những trái táo, những trái táo đang cất mình trong không gian để bay thành hương thơm của rượu. Một không gian rất cubism, đầy góc cạnh và những ý tưởng. Sự tưởng tượng của Thơ Thơ không phải chỉ thuần là do mơ mộng. Thật ra, nó có nguồn gốc từ sự quan sát và cảm nhận ngoại giới, sự vật từ chính những giác quan của tác giả:
[...]“Mẹ lúc đó chưa đến bốn mươi, mặc áo màu nhạt cho đỡ nóng, trước ngực đeo chiếc yếm bằng vải những khi làm việc ngoài vườn. Tôi rất yêu chiếc yếm ấy, nó mầu hồng lợt, có thêu những cái gầu tưới nước, và vài dụng cụ làm vườn khác, máng trên hàng rào gỗ lưa thưa dưới gấu.
Lúc đó mẹ mới từ vườn vào. Nắng chói lọi sau lưng làm mẹ hoa mắt ở ngay ngưỡng cửa. Mẹ đứng yên đó khoảng nửa phút, nhìn xuống những trái táo mới hái còn đầy bụi trên tay. Dáng đứng uể oải cắt lên khung cửa, tạo thành một mảnh tối ngăn giữa khu vườn và màu đỏ của những quả táo.
Đó là giây phút đẹp nhất của mùa hè. (Mùa hè…, từng đoạn ngắn, tr. 37)
(…) Tôi làm theo mẹ, kề sát mũi, nhắm mắt lại, và hít vào thật sâu. Chao, không có trái cây nào thơm ngọt ngào như thế. Mùi thơm thấm vào phổi vẫn còn thơm, loang ra khắp người giống như mới được tắm gội bằng dầu táo.(…) Suốt mùa hè, mẹ bày nhiều trò chơi với táo. Khi dầu táo bắt đầu tuôn ra ngoài lớp vỏ, nhiều đến độ có thể lấy tay mà miết đi cái lớp nhờn đặc sệt tinh chất, mẹ làm bánh mứt táo, ép nước táo và ủ rượu táo…”(Mùa hè…, từng đoạn ngắn, tr. 38)
Hình ảnh của mùa hè, của người mẹ, của những trái táo, mùi thơm của táo, cái chất thơm đặc sệt tinh chất ấy bay từ trang sách của Thơ Thơ làm thơm mát cái khoảng không gian mà người đọc đã chọn để đi vào những trang sách của tác giả. Nó làm tôi liên tưởng đến mùi thơm mát và hình ảnh mọng nước đầy kích thích vị giác của những trái cam mà Larry Woiwode đã mô tả trong bài “Tụng ca cho một trái cam” (Ode to An Orange). Đó cũng là một bài văn thật đẹp mà Woiwode đã viết để tưởng nhớ lại cái mùi vị ngọt ngào kỳ lạ của một trái cam đã giữ cho những mùa đông của tác giả nơi vùng North Dakota của tuổi thơ ông được ấm áp. Một bài văn đẹp với những sự quan sát và cảm nhận tinh tế khiến cho một nhà phê bình đã cho rằng “sự diễn tả thiên nhiên một cách tinh tế của Woiwode như đã thôi miên những cảm giác của người đọc” (Thử trích một đoạn trong bài “Tụng ca” này: “Trong bàn tay khéo léo của mẹ, lưỡi dao thái sâu vào vỏ quả cam làm tỏa ra mùi thơm và người ta có cảm tưởng như những tia pháo bông của nước miếng bắn ra trong miệng người ta (…) Những tia nước nhỏ li ti có chứa chất gas của vỏ cam bắn ra có thể tạo nên một tấm màn sương mỏng như khói, và người ta có thể châm sáng tấm màn mỏng này với một que diêm để tạo ra những ngọn pháo bông thật sự nếu người ta có cơ hội trốn một mình ở một góc tối nào đó với một que diêm… và mấy miếng vỏ cam. Người ta cũng có thể bóp những miếng vỏ cam này ngay sát cạnh một ngọn nến để làm bật ra những ngọn pháo bông xanh đỏ nhiều mầu…, và những vỏ cam khác có thể để trên bếp lò để làm thơm cả căn nhà…”)
Tôi nhắc đến Woiwode ở đây để “biện minh” cho việc trích khá dài phần viết về mùa hè và những mùi thơm của táo của Thơ Thơ. Giống như mùi thơm của cam trong không gian mùa đông của Woiwode, tôi nghĩ mùi thơm của táo trong không gian đầy nắng hè của Thơ Thơ cũng mang về cho người đọc và cho tác giả những kỷ niệm đẹp tươi và đáng yêu như thế. Những mùi vị ấy cũng cho con người thấy rằng tưởng tượng không phải là những hình ảnh đến từ hư không. Thật sự, chúng là những hình ảnh có gốc rễ ngay chính trong hiện thực. Chính là trong những mảnh vụn của hiện thực mỗi ngày mà con người đã lấy ra những dấu chỉ và những mầm hạt của cuộc đời, và gieo vãi chúng trong những giấc mơ của đời sống mình. Những giấc mơ khi con người thả mình bồng bềnh trong đêm, hay những giấc mơ khi con người thả bay chính nó như một cánh diều trong những cơn gió nổi của đời sống mỗi ngày.
Những giấc mơ của những nhân vật Thơ Thơ – dù là những giấc mơ thật, hay là những “giấc mơ” giữa đời của họ- , những cái nhìn kinh ngạc hay bình tĩnh vào đời sống ấy, có những lúc, làm cho tôi nhớ đến Gabriel García Márquez. Trở lại với nhân vật của Thơ Thơ và những giấc mơ của họ. Đây là một giấc mơ thật: nhân vật “tôi”, một cô gái, “rất hãi đám ma và những âm thanh quái gở của nó”. Cô gái nằm mơ thấy một đám ma. Cô và các em chui xuống gầm bàn trốn. [...]“Nhưng cái đám ma này rất lì lợm, họ gõ cửa đòi vào, rồi họ khóc lóc dai dẳng. Lần này tôi cũng nhắm nghiền mắt, bịt chặt tai, nhưng vô ích. Tiếng khóc cứ mỗi lúc một to dần, tiếng khóc đến sát người tôi. Tôi thét lên, mở choàng mắt ra nhìn.
Thì ra đám ma đang chui qua khe cửa vào nhà., nó đã lọt được vào đây mất rồi!
Cỗ xe tang vàng chóe nằm ép dẹp xuống đất, vào được trong nhà nó lại to phình lên. Một đoàn người áo xống xốc xếch chui ra từ dưới cánh cửa ra vào, họ vừa than vãn vừa đặt chiếc quan tài đỏ lên mặt bàn có chúng tôi đang ngồi trốn bên dưới. (…) Rồi một hơi nóng khủng khiếp bốc hừng hực ngay đỉnh đầu. Thì ra những ngọn nến trên quan tài đã chảy tan và nhỏ những giọt sáp bỏng xuống bàn. Tôi nghe rõ mồn một từng giọt, từng giọt gõ vào sớ gỗ. Mặt bàn thấp dần, thấp dần xuống mãi dưới sức nặng của quan tài. Cuối cùng chiếc quan tài đè chúng tôi nằm sát mặt đất. Bây giờ thì nó nặng như đá…” (Ba sẽ về ngày mai, tr. 74-75)
Đó là giấc mơ báo trước cái chết của người bố nhân vật xưng “tôi”. Còn đây là một hiện thực, một giấc mơ có thực giữa đời, liên quan đến cái chết của người mẹ, trong một truyện khác:
“Mẹ đã ngất đi, có lẽ trong khi tôi ngủ. Người mẹ nóng bỏng như hòn than. (…) Giọng mẹ yếu ớt như người đang nói mớ:
“Để yên,… cho mẹ ngắm mùa hè … cho mẹ ngửi một chút mùa hè đi…
Đó là câu nói của giấc mơ, bởi sau đó mẹ không tỉnh dậy nữa. Sức nóng điên cuồng đã lấy đi ý thức của mẹ. Tôi gượng đứng lên đi gọi điện thoại. Trong trạng thái giữa mê và tỉnh, tôi nhận ra sức sống khủng khiếp đang bùng nổ khắp nơi. Bao nhiêu thứ bộc phát từ lòng đất, trong khi tôi ngủ chúng đã lớn lên đột ngột vô chừng. Cây cỏ trông như loài rắn rít, bò lan tràn vào dưới hàng hiên. Hoa nở to như mặt người, cành lá bung ra thành những cánh tay vẫy vùng chấp chới.
Khi tôi nhìn lên cây, những trái táo đã trở màu đỏ lịm.
Sau này người ta gọi đó là mùa hè viêm nhiệt não. Khi đã chìm vào cơn mê choáng nắng người ta không còn thấy nóng nữa. Họ cứ khăng khăng đòi đến sát mặt trời.”(Mùa hè…, từng đoạn ngắn, tr. 42-43)
Hiện thực trong truyện của Thơ Thơ có lúc mang những nét thật gần với những hiện thực trong truyện của Márquez. Nói chung, có lẽ chúng gần với những hiện thực trong truyện của những nhà văn châu Mỹ La-Tinh. Chẳng hạn hiện thực (và tưởng tượng) trong những câu văn sau đây của Thơ Thơ, trong một truyện ngắn khác:
“Khi tôi tỉnh dậy có lẽ đã quá nửa đêm. Tôi hoảng hốt đập cửa phòng bố. Cho đến giờ, tôi cũng không hiểu tại sao mình lại có đủ sức ra tận hồ, đi hết một vòng, qua cả phía rừng bên kia. Gió rít từng hồi rền rĩ. Cỏ gai cao ngập đầu, quất vào mặt những vết cứa sắc như dao. Sương dày đặc như những tảng băng vĩnh cửu. Những bước chân của tôi bồng bềnh như ở trên mây, và chỉ khi nước lạnh bắt đầu thấm qua đôi giày vải tôi mới chắc rằng mình đang đi trên đất. (…)
Lên tới phòng ngủ, tôi gần như kiệt sức. Tôi để đèn sáng suốt đêm. Cửa sổ đã đóng kín, nhưng từ bức tranh vẫn tỏa ra những làn hơi lạnh trắng bay nghi ngút. Tôi chợt nghĩ, chính sương đã từ đây tràn qua cửa sổ, và giăng kín bầu trời đêm nay.” (Phòng triển lãm mùa đông, tr. 58-59)
Sự quan sát và tưởng tượng của Thơ Thơ có khi đưa tác giả vào những không gian trời đất cũng như những không gian tâm trạng có những nét gần với khung cảnh và tâm cảnh của những nhân vật Mỹ châu La-Tinh như thế. Có những khung cảnh/tâm cảnh khá quái dị và u uẩn như tôi đã thử phân tích. Nhưng trong văn của Thơ Thơ, người ta cũng có thể tìm ra những hình ảnh thật đẹp. Những hình ảnh như được đưa lên khung vải của một họa sĩ:
[...]“Nhân vật của tôi đã đến nhưng còn chùng chình ngoài cửa. Cô gái đang nhoài người khỏi thành cầu thang nhìn xuống phố, mái tóc chảy dài thành miếng lụa đen buông thõng trên nền áo đỏ. Màu áo và tóc nổi bật trên nền nhà bên kia đường, những lớp nhà lô nhô xô đẩy cắt biển thành từng mảng so le. Tôi sững người nhìn, một bố cục tuyệt khéo. Tôi thu vội hình ảnh vào đầu. Mẫu phim này ghi lại nhiều ấn tượng và cảm xúc, có thể đem dùng vào chương thứ sáu được.” (Mõt nơi để viết, tr. 172)
Đó là một mắt nhìn rất “hội họa” của Thơ Thơ. Còn đây là những khung cảnh không những mang chất hội họa mà còn đầy chất âm nhạc nữa:
“… [C]ảm giác có một vệt nóng dán lên bàn chân làm tôi nhìn xuống. Thì ra là nắng. Nắng từ ngạch cửa, đã bò vào tận giữa phòng, luồn dưới bàn viết. (…) Tôi lại nhìn xuống chân. Nắng vẫn ở đấy, không chịu đi xa nữa, cũng không chịu lùi bước, quấn quít, chờ đợi và mời gọi. Thế là tôi quyết định. Tôi đứng dậy, đi theo vạch nắng nối từ chân ra cửa. Cũng có thể những sợi nắng cuốn lấy tôi kéo băng ra ngoài. (…) (Một nơi để viết, tr. 176)
Tôi đi, biết rằng mình đang đi, và đi theo nắng (…) Đường hẹp và chạy xiên xiên, xe cộ thả từ từ. Từng đoàn người kéo ra từ một phòng tranh, dừng lại ở những cửa sổ của tiệm nữ trang và quần áo, đổ xuống những bãi cỏ và những quầy bán kem, rồi lại kéo vào một phòng triển lãm khác. Họ đi vừa vội vã vừa chậm rãi, và tôi nhận ra mình cũng đang chậm rãi trong sự vội vàng. Cứ như tất cả đang xảy ra cùng một nhịp độ, trong con phố này, vào giờ khắc này, như tất cả những bè của một bản nhạc, bè nhanh và bè chậm, dòng chẩy và dấu lặng, hòa hợp và đối chỏi…, tất cả cùng tấu lên những âm sắc riêng theo một tiếp điệu chung. Chỉ có những thằng bé trượt ván gỗ trên hè là đi lạc ngoài tiết tấu, nghe như tiếng lướt của dây đàn tây ban cầm…”(Một nơi để viết, tr. 176-177)
Vạch nắng (cùng những sợi nắng) của Thơ Thơ thật tuyệt diệu và đáng yêu. Nó tạo ra một dòng hiện thực thật đẹp. Nó cũng lại chứa đầy trong nó những ảnh tượng đậm đặc tính tưởng tượng. Nó cũng làm cho tôi nhớ đến dòng máu của một nhân vật trong “Cien Anos de Soledad” (Trăm Năm Cô Đơn) của Márquez. Dòng máu ấy, chảy ra từ thân xác kẻ chết, đã tìm được đường về nhà. Nó chảy qua những ngõ ngách, những đường hẻm quanh co, những khu chợ búa đầy những con người với tiếng cười nói, mua bán, chuyện trò ồn ã. Và nó tìm được đường về nhà. Nó bò qua khe cửa vào tận trong nhà để báo tin cho những người ở nhà về con người đã chết kia. Nó làm người đọc bị ám ảnh và khó quên được. Vạch nắng của Thơ Thơ hồn nhiên, trong sáng hơn. Ngoài ra, vạch nắng ấy dẫn đến sự sống. Nó là sự sinh động, tươi mới của cuộc đời. Nó dẫn người ta vào giữa dòng chảy của cuộc trần gian này. Và cho người ta nghe thấy tiếng nhạc của đời sống. Giống như tiếng đời vui trong một ca khúc của Phạm Duy. Đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái…
Dù còn những điểm, những nét vẫn có thể làm cho hay hơn, với 14 truyện ngắn/tùy bút đầu tay, Thơ Thơ đã làm được một điều đáng quý này: giới thiệu với người đọc một số cây trái và hạnh phúc trần gian. Những cây trái phả ra từ chúng những giấc mơ có những mùi thơm ngọt ngào và đôi khi cay đắng. Như những mùi mật thơm và mùi hạnh đắng trong đời. Tất cả đều là những mùi vị trần gian. Còn hạnh phúc? Đó là một thứ hạnh phúc hai mặt. Có mặt phải và có mặt trái. Có nét ảo và có nét thực. Giống như hạnh phúc của mỗi một con người sống trong đời sống này.
Mong Thơ Thơ tiếp tục đi xa. Và tìm được những mùi vị trần gian khác: những cây trái và những hạnh phúc mới của cuộc đời.
Bùi Vĩnh Phúc
Giáng Sinh, 2001
Bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ
- Đặng Thơ Thơ: Phòng Triển Lãm Mùa Đông - 05.06.2008

Phần Góp Ý/Bình Luận